Ở Việt Nam hiện nay, chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành nghề hợp lý,
chính sách phát triển vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo rất được coi
trọng.
Thứ sáu: NHTM góp phần chống lạm phát.
Với đặc điểm NH là trung gian tài chính với hoạt động huy động vốn, cấp
tín dụng và thực hiện trung gian thanh toán, lượng tiền trong lưu thông được
NHTW kiểm soát thông qua kiểm soát các hoạt động của NHTM. Thông
qua các khoản mục của NHTM, NHTW sẽ xác định được lượng tiền đang
lưu thông trong nền kinh tế. Khi xảy ra lạm phát, NHTW sẽ tăng tỷ lệ dự trữ
bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu hoặc tham gia vào thị trường mở để thông
qua các NHTM thay đổi lượng tiền trong lưu thông. Các NHTM sẽ kiểm
soát lạm phát thông qua các hoạt động tín dụng, bảo lãnh. Như vậy, NH là
cơ quan quản lý tiền tệ của nền kinh tế, thông qua các nghiệp vụ của mình
NH điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua của đồng tiền.
Thứ bảy: NHTM tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa - thúc đẩy
phát triển thương mại thế giới.
Ngày nay, thương mại quốc tế ngày càng phát triển. Nền kinh tế của một
quốc gia phát triển phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế thế giới, kinh tế
khu vực. NH đã trở thành một trong những phương tiện nối liền các nền kinh
tế trên thế giới với nhau. Đối với các nước đang phát triển, NHTM lại càng
đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế. NHTM cấp tín dụng cho
các nhà xuất nhập khẩu, thực hiện các hình thức thanh toán, bảo lãnh…cho
hoạt động thương mại quốc tế. Mặt khác, thông qua NHTM, nguồn tín dụng
nước ngoài được thu hút để tiến hành CNH - HĐH đất nước.
1.1.2. Những hoạt động cơ bản của NHTM trong nền kinh tế
NHTM là một DN đặc biệt, hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và
tín dụng, không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như các DN thuộc lĩnh
vực SXKD nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất, lưu thông
và phân phối sản phẩm xã hội bằng cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu tư
cho các tổ chức, DN, cá nhân mở rộng SXKD, góp phần tăng nhanh tốc độ
phát triển kinh tế.
* Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là hoạt động tạo vốn cho NHTM, nó đóng vai trò
quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của NH.
Hoạt động huy động vốn của một NHTM bao gồm: Nhận tiền gửi, phát hành
các giấy tờ có giá ra công chúng, vay từ các tổ chức khác, tự tài trợ bằng vốn
chủ sở hữu của NH.
Tuy nhiên, dưới bất cứ hình thức huy động nào thì NHTM đều phải trả một
chi phí nhất định, đó là chi phí huy động vốn hay còn gọi là chi phí đầu vào
của NH. Các chi phí này được bù đắp thông qua việc cho vay và đầu tư của
NH.
* Hoạt động cho vay và đầu tư
Hoạt động cho vay và đầu tư là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho
NH. Thông qua hoạt động này NH có thể bù đắp được các chi phí cho việc
huy động vốn. Trong đó, hoạt động cho vay chiếm vị trí quan trọng hơn cả,
NH có khả năng đối diện với rủi ro mất khả năng thanh toán là rất lớn, quyết
định sự tồn tại của mọi NH.
Có nhiều hình thức phân loại một khoản vay của NHTM: Theo giá trị thời
gian có vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; Theo đối tượng khách hàng có
DN, cá nhân, Chính phủ…
* Hoạt động trung gian
Cũng như đã nói ở trên, nếu một tổ chức nào đó chỉ thực hiện 2 nghiệp vụ
huy động vốn và sử dụng vốn thì không thể coi là một NH được. Vì vậy, các
NHTM muốn được hiểu theo đúng nghĩa của nó thì còn thực hiện cả nghiệp
vụ trung gian thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như chuyển tiền,
thanh toán không dùng tiền mặt, cung cấp dịch vụ…Nghiệp vụ này không
những mang lại thu nhập cho NH ( hoa hồng ) mà còn góp phần thúc đẩy hỗ
trợ các nghiệp vụ nói trên.
NH cần phải hội tụ đủ cả 3 hoạt động trên. Nếu thiếu 1 trong 3 thì không thể
coi là NH được. Vì vậy, ba hoạt động này là một thể thống nhất có quan hệ
mật thiết với nhau, coi nhẹ hoạt động nào thì đều làm cho NH không thể
phát huy được hết sức mạnh tổng hợp.
Tóm lại, có thể định nghĩa NHTM như sau: “ NHTM là tổ chức kinh tế được
thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ và tín dụng với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi đó để cấp tín dụng và cung
ứng các dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
1.1.3. Vài nét về Ngân hàng Công Thuơng Việt Nam
* Quá trình hình thành và phát triển
Trước năm 1998, NHCT VN là một bộ phận của NHNN có chức năng thực hiện nhiệm vụ
tín dụng với các đơn vị kinh doanh công thương nghiệp. Sau năm 1998, hệ thống NH VN
chuyển từ một cấp sang sang hệ thống NH hai cấp, tách bạch chức năng quản lý và kinh
doanh theo nghị định 59/CP năm 1998, bộ phận này trở thành một NH quốc doanh độc lập
hoạt động như một NHTM mang tên Ngân hàng Công Thương Việt Nam. NHCT VN được
chính thức thành lập theo quyết định số 42/CT ngày 14/11/1990 của Chủ tịch hội đồng Bộ
trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) và được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký quyết
định số 285/QĐ-NH5 ngày 21/09/1996 thành lập lại theo mô hình Tổng công ty Nhà nước,
theo ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, tại quyết định số 90/TTg ngày 07/03/1994 nhằm
tăng cường tập trung, phân công chuyên môn hóa và hợp tác kinh doanh để thực hiện
nhiệm vụ nhà nước giao, nâng cao khả năng và hiệu quả của các đơn vị thành viên và toàn
bộ hệ thống NHCT VN để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
NHCT VN đặt trụ sở chính tại số 108 đường Trần Hưng Đạo-Quận Hoàn
Kiếm-TP.Hà Nội, có hệ thống mạng lưới gồm: 1 trụ sở chính, 3 Sở Giao
dịch, 156 chi nhánh (trong đó có 93 chi nhánh trực thuộc và 63 chi nhánh
phụ thuộc), trên 700 Phòng giao dịch, hơn 100 cửa hàng kinh doanh vàng
bạc, hơn 400 quỹ tiết kiệm trong cả nước. Có 3 công ty hạch toán độc lập là
Công ty cho thuê Tài chính, Công ty TNHH Chứng khoán, Công ty Quản lý
Nợ và Khai thác Tài sản và 2 đơn vị sự nghiệp là Trung Tâm Công nghệ
Thông tin và Trung tâm Đào tạo.
Là một trong bốn NHTM Nhà nước lớn của Việt Nam, NHCT VN có
tổng tài sản chiếm hơn 25% thị phần trong toàn bộ hệ thống NH VN. Nguồn
vốn của NHCT VN luôn tăng trưởng qua các năm. NHCT VN ( Tên giao
dịch quốc tế: VietinBank) được thành lập năm 1988 sau khi tách ra từ
NHNN VN và được Nhà nước xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc
biệt.
NHCT VN là một trong những NHTM Việt Nam đi đầu trong việc cải tiến
công nghệ thông tin NH, hiện đại hóa NH. Là NH đầu tiên của Việt Nam có
Website và là thành viên chính thức của nhiều hiệp hội như:
* Là thành viên sáng lập của các tổ chức Tài chính tín dụng như:
• Sài Gòn Công thương Ngân hàng
• Indovinabank (Ngân hàng liên doanh đầu tiên tại Việt Nam )
• Công ty cho thuê Tài chính Quốc Tế-VILC (Công ty cho thuê
Tài chính quốc tế đầu tiên tại Việt Nam )
• Công ty Liên doanh Bảo hiểm Châu Á-NHCT
* Là thành viên chính thức của:
• Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA)
• Hiệp hội các ngân hàng Châu Á (AABA)
• Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng (SWIFT)
• Tổ chức Phát hành và Thanh toán thẻ VISA, MASTER quốc tế
* Các mốc lịch sử thành lập của NHCT VN:
• Ngày 26/03/1988. Thành lập các NH Chuyên doanh (Theo Nghị
định số 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng)
• Ngày 14/11/1990. Chuyển NH Chuyên doanh CT VN thành
NHCT VN (Theo Quyết định số 402/CT của Hội đồng Bộ trưởng)
• Ngày 27/03/1993. Thành lập DNNN có tên NHCT VN (Theo
Quyết định số 67/QĐ-NH5 của Thống đốc NHNN Việt Nam )
• Ngày 21/09/1996. Thành lập NHCT (Theo Quyết định số
285/QĐ-NH5 của Thống đốc NHNN Việt Nam )
* Sơ đồ cơ cấu tổ chức của hệ thống NHCT VN
CHI
NHÁNH
PHỤ
THUỘC
QUỸ
TIẾT
KIỆM
PHÒNG GIAO DỊCH
CHI NHÁNH CẤP 2
QUỸ TIẾT KIỆM
PHÒNG GIAO DỊCH
Sơ đồ 1.2. Hệ thống tổ chức của toàn NHCT VN
1.2. Thẩm định tài chính dự án trong công tác cho vay tại các NHTM.
1.2.1. Hoạt động tín dụng - cho vay của NHTM
Hoạt động tín dụng - cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, đồng thời
nó cũng là hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận.
Khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ ½ đến ¾
nguồn thu nhập của NH. Hay NH là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các tổ
chức, DN, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với Nhà nước ( Thành phố,
tỉnh…). Vì vậy, có thể nói NHTM hỗ trợ cho sự phát triển của cộng đồng
thông qua việc cung cấp tín dụng, đáp ứng nhu cầu tài chính của xã hội với
một mức lãi suất hợp lý. Hoạt động tín dụng - cho vay là chức năng kinh tế
cơ bản hàng đầu của các NH.
Ngày nay, nền kinh tế phát triển kéo theo nhu cầu về tín dụng của khách
hàng rất đa dạng và phong phú. Để đáp ứng được những đòi hỏi của thực
tiễn, các NHTM đã cung cấp nhiều loại hình tín dụng khác nhau. Tùy vào
các căn cứ mà tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
- Căn cứ vào mục đích vay vốn có thể kể đến các khoản tín dụng như sau:
Cho vay kinh doanh, cho vay tiêu dùng và các khoản cho vay khác.
- Căn cứ vào lãi suất thì có các loại hình như sau: Cho vay với lãi suất thả
nổi, cho vay với lãi suất cố định và cho vay với lãi suất ưu đãi.
- Căn cứ vào tính chất bảo đảm, có các loại tín dụng: Cho vay có bảo đảm và
cho vay không có bảo đảm.
- Căn cứ vào thời gian vay của khách hàng ( đây là một tiêu thức phân loại
rất quan trọng) thì có thể kể đến hai loại hình tín dụng: Tín dụng ngắn hạn,
tín dụng trung và tín dụng dài hạn.
Cho vay ngắn hạn: là những khoản cho vay có thời gian dưới 12 tháng.
Cho vay trung hạn: là những cho vay có thời gian từ 12 tháng đến 60 tháng.
Cho vay dài hạn: là những khoản cho vay có thời gian trên 60 tháng, được
tiến hành chủ yếu trên các dự án đầu tư với thời gian thu hồi vốn chậm.
Hoạt động cho vay mang lại cho NH rất nhiều rủi ro tiềm ẩn, đặc biệt là cho
vay trung và dài hạn theo DAĐT. Tuy nhiên, ngày nay các NHTM ngày
càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho các DN mua sắm trang thiết bị,
xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mua công nghệ…đặc biệt là các ngành công
nghệ cao. Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, để tồn
tại và phát triển nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng cao. Và trong đó thì
lại phải nói đến cho vay theo các DAĐT. Khi khách hàng có kế hoạch mua
sắm, xây dựng tài sản cố định…nhằm thực hiện dự án nhất định, có thể xin
vay NH. Một trong những yêu cầu của NH là người vay phải xây dựng dự
án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư cũng như quá trình thực hiện dự án
(sản xuất kinh doanh). Thẩm định dự án là điều kiện để NH quyết định phần
vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả của DN.
Đặc điểm của loại hình này là có số cho vay lớn, thời gian cho vay dài, chịu
nhiều biến động và do đó có độ rủi ro cao. Và cũng do đặc điểm này mà NH
thường đòi hỏi phải có bảo lãnh, theo đó NH có thể thu hồi khoản vay từ tổ
chức bảo lãnh khi khách hàng không có đủ khả năng trả nợ. Đồng thời việc
cho vay đòi hỏi sự tham gia của một số tổ chức tài chính khác nhằm chia sẻ
rủi ro. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các NH
và các tổ chức tín dụng khác ngày càng gay gắt. Vì thế, để NH thắng trong
cuộc cạnh tranh giành khách hàng này, NH sẽ phải tính đến biện pháp cho
vay mà không cần bảo lãnh. Nhưng đây là một vấn đề khó khăn và nan giải.
Vậy để NH vừa tăng được khả năng cạnh tranh mà vẫn bảo đảm cho khoản
thu nhập xứng đáng và bảo đảm an toàn vốn thì NH phải có những dự án tốt.
Ngày nay, trong quản trị hoạt động NHTM, các NH đều chú trọng tới việc
làm giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra với các dự án cho vay đầu tư. Quá
trình cho vay của một dự án thường gồm nhiều khâu: từ thẩm định, xét
duyệt, quyết định cho vay tới kiểm tra sử dụng vốn vay và theo dõi, xử lý
thu hồi nợ sau khi cho vay. Trong đó, các NHTM thường xem giai đoạn
trước khi cho vay - giai đoạn phân tích tín dụng, thẩm định dự án là quan
trọng nhất. Kết quả của khâu này sẽ mang tính quyết định đối với một khoản
cho vay. Đặc biệt, thẩm định dự án chính là khâu mà NH cần phải quan tâm
hàng đầu để đảm bảo tránh được các rủi ro của một khoản cho vay, tạo sự ân
toàn và lành mạnh trong hoạt động của NH.
1.2.2. Hoạt động thẩm định dự án đầu tư
* Khái niệm
Thẩm định DAĐT là việc tổ chức xem xét một cách khách quan có khoa học
và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới việc
đầu tư cũng như tính khả thi của một dự án để ra quyết định về đầu tư và cho
phép đầu tư. Thẩm định DAĐT là một khâu quan trọng trong giai đoạn
chuẩn bị cho vay, có ý nghĩa quyết định tới các giai đoạn sau của chu kỳ dự
án. Vì vậy, kết quả thẩm định phải độc lập với với tất cả những ý muốn chủ
quan cho dù đến từ bất kỳ phía nào.
* Mục đích
Thông qua thẩm định DAĐT các NHTM có được cái nhìn tổng quát nhất về
chủ đầu tư và về dự án. Về chủ đầu tư, NH đánh giá được năng lực pháp lý,
năng lực tài chính, trình độ, tình hình SXKD hiện tại của dự án. Còn về dự
án, NH đánh giá một cách toàn diện một dự án về các mặt: kỹ thuật, hiệu
quả tài chính, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội…
Mục đích của thẩm định cho DAĐT nhằm lựa chọn được dự án có tính khả
thi cao, phát hiện loại bỏ những dự án xấu. Bởi vậy, mục đích cụ thể được
đặt ra cho công tác thẩm định DAĐT là:
- Đánh giá tính hợp lý của dự án: tính hợp lý được thể hiện ở từng nội dung
và cách thức tính toán của dự án.
- Đánh giá tính hiệu quả của dự án: hiệu quả của dự án được xem xét trên
hai phương diện: hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội của dự án.
- Đánh giá khả năng thực hiện của dự án: Đây là mục đích hết sức quan
trọng trong thẩm định dự án. Một dự án hợp lý và hiệu quả cần phải có khả
năng thực hiện. Tất nhiên hợp lý và hiệu quả là hai điều kiện quan trọng để
dự án có thể thực hiện được. Nhưng khả năng thực hiện của dự án còn phải
xem xét đến các kế hoạch tổ chức thực hiện, môi trường pháp lý của dự án…
* Yêu cầu
- Lựa chọn được các dự án đầu tư có tính khả thi cao (có khả năng thực hiện,
đem lại hiệu quả và hiệu quả chắc chắn)
- Loại bỏ được các dự án đầu tư không khả thi, nhưng không bỏ lỡ mất các
cơ hội đầu tư có lợi.
Thẩm định được tiến hành với tất cả các DAĐT xây dựng thuộc mọi nguồn
vốn, của mọi thành phần kinh tế như: Vốn trong nước và vốn nước ngoài,
vốn NSNN, vốn của các DNNN, vốn của các tổ chức chính trị xã hội, vốn hỗ
trợ phát triển chính thức (ODA), vốn của các thành phần kinh tế khác…
Để công tác thẩm định đạt chất lượng tốt, người làm công tác thẩm định cần
phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nắm vững chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành,
của địa phương, và các qui chế, luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư
và xây dựng hiện hành của nhà nước.
- Hiểu biết về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án, tình hình và
trình độ kinh tế chung của địa phương, đất nước và thế giới. Nắm vững tình
hình SXKD, các số liệu tài chính của DN, các quan hệ tài chính - kinh tế tín
dụng của DN (hoặc của chủ đầu tư khác), với NH và NSNN.
- Biết khai thác số liệu trong báo cáo tài chính của DN (hoặc chủ đầu tư),
các thông tin về giá cả, thị trường để phân tích hoạt động chung của DN, từ
đó có thêm căn cứ vững chắc để quyết định đàu tư hoặc cho phép đầu tư.
- Biết xác định và kiểm tra được các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật quan trọng
của dự án, đồng thời thường xuyên thu thập, đúc kết, xây dựng các chỉ tiêu
định mức kinh tế - kỹ thuật tổng hợp trong và ngoài nước để phục vụ cho
việc thẩm định.
- Đánh giá khách quan, khoa học và toàn diện nội dung dự án, có sự phối
hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia trong và ngoài
ngành có liên quan ở trong và ngoài nước.
- Thẩm định kịp thời, tham gia ý kiến ngay từ khi nhận được hồ sơ.
- Thường xuyên hoàn thiện qui trình thẩm định, phối hợp và phát huy được
trí tuệ tập thể.
* Căn cứ tiến hành thẩm định
- Hồ sơ dự án
- Căn cứ pháp lý
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét