Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Hoàn thiện lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán dự án tại Công ty Hợp danh kiểm toán và tư vấn STT

Luận văn tốt nghiệp
tòa nhà, một dây chuyền sản xuất, một nỗ lực trong cải thiện đời sống sinh hoạt của
nhóm dân cư,… Mỗi dự án lại bao gồm tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện.
Và từng nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập. Tập hợp những kết quả
riêng cụ thể ấy hình thành nên kết quả chung của tổng thể dự án. Hiểu một cách khác,
dự án là một hệ thống phức tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác
nhau để thực hiện và quản lý nhưng đều phải thống nhất đảm bảo các mục tiêu chung
về thời gian, chi phí và chất lượng công việc hoàn thành.
Dự án có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn.
Dự án cũng trải qua các giai đoạn như: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt
đầu và thời điểm kết thúc như các thực thể sống khác. Tuy nhiên, dự án là một sự
sáng tạo và dự án không kéo dài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được
chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản trị dự án được giải tán.
Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo.
Không giống như quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án
không mang tính chất hàng loạt mà có tính chất khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ
do dự án đem lại là duy nhất , hầu như không lặp lại như dự án Lọc dầu Dung Quất,
dự án Khu đô thị Phú Mỹ Hưng. Tuy nhiên, ở nhiều dự án khác tính duy nhất ít rõ
ràng hơn mà bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng. Nhưng chúng vẫn có những
đặc điểm khác biệt đặc thù về thiết kế, vị trí, khách hàng,… Chính những nhân tố đó
tạo nên nét duy nhất, đặc thù, độc đáo và đơn chiếc của các dự án.
Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận
quản lý chức năng với quản lý dự án.
Mỗi dự án đều có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người
hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý của nhà nước. Tùy
theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành
phần trên cũng khác nhau. Các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án
thường xuyên có mối quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện dự án, tuy nhiên
mức độ tham gia của các bộ phận là không giống nhau.
Môi trường hoạt động “va chạm”.
Với các dự án cùng một nhà đầu tư, quan hệ giữa các dự án là quan hệ phân
Nguyễn Mai Linh Kiểm toán 46A
5
Luận văn tốt nghiệp
chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau
và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị,… Trong
quản lý, nhiều trường hộp, các thành viên ban quản lý dự án lại có chủ trương “hai
giám đốc” để tạo ra sự kiểm soát lẫn nhau, tuy nhiên điều này sẽ gây ra những hiểu
lầm và trì trệ trong công việc nếu như mệnh lệnh của hai giám đốc là trái ngược. Do
đó, môi trường quản lý của dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động.
Tính bất định và rủi ro cao.
Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện
trong một khoảng thời gian nhất định. Nhưng bên cạnh đó, thời gian đầu tư và vận hành
kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao.
1.1.3. Phân loại dự án
Hiện nay, tại Việt Nam có nhiều loại dự án khác nhau về mục đích, tính chất,
quy mô, đặc điểm và mức độ phức tạp. Vì vậy cũng có rất nhiều cách phân loại dự án
như theo mức độ sử dụng, theo mục đích, theo quy mô
Theo nguồn vốn đầu tư, dự án có thể được phân chia thành các loại như sau:
• Dự án sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước.
• Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh hoặc vốn tín dụng đầu tư
phát triển của Nhà nước.
• Dự án sử dụng nguồn vốn do vay nước ngoài của Chính phủ và các nguồn
viện trợ quốc tế cho đầu tư phát triển (bao gồm cả vốn hỗ trợ phát triển
chính thức ODA) được quy định trong Điều 21 Luật Ngân sách Nhà
nước và các văn bản hướng dẫn như Nghị định 17/CP/2001 về Quy chế
quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức.
• Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.
• Dự án sử dụng vốn khác bao gồm vốn tư nhân hoặc hỗn hợp nhiều nguồn vốn.
Theo quy mô của dự án, ngoài các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội
thông qua chủ trương và cho phép đầu tư, những dự án còn lại phân thành ba nhóm
A, B, C (Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07 tháng 02 năm 2005 do chính phủ ban
hành)
Nguyễn Mai Linh Kiểm toán 46A
6
Luận văn tốt nghiệp
• Dự án nhóm A: các dự án thuộc thẩm quyền cấp Giấy phép đầu tư của Thủ
tướng Chính phủ, bao gồm các dự án như: xây dựng các khu công nghiệp,
khu chế xuất, các dự án có vốn đầu tư từ 40 triệu USD trở lên thuộc các
nghành điện, dầu khí, luyện kim, xi măng, hóa chất, cảng biển, sân bay, khu
văn hóa, du lịch,…, các dự án vận tải biển, hàng không, bảo hiểm, tài chính,
…, dự án khai thác tài nguyên quý hiếm, các dự án thuộc lĩnh vực quốc
phòng an ninh…
• Dự án nhóm B: các dự án thuộc thẩm quyền quyết định cấp giấy phép của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư bao gồm các dự án không thuộc quy định trên, trừ
những dự án quy định thuộc nhóm C và những dự án ủy quyền cho Ban
quản lý Khu công nghiệp cấp giấy phép đầu tư.
• Dự án nhóm C: các dự án thuộc thẩm quyền cấp Giấy phép đầu tư của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh.
Theo tính chất của dự án, các dự án có thể phân chia thành:
• Dự án đầu tư mới: Hoạt động đầu tư mới trong một lĩnh vực, địa bàn nhất định
• Dự án mở rộng: Đầu tư mở rộng sản xuất hay dịch vụ nào đó đã có từ trước
(mở rộng về quy mô, địa bàn).
• Dự án thay thế: Đầu tư thay thế một hoạt động sản xuất hay dịch vụ nào đó
đã có từ trước song lợi suất không cao (do quá cũ hoặc hết khấu hao). Đầu
tư này nhằm lợi suất cao hơn và hiệu quả hơn về kinh tế.
Ngoài ra, các dự án có thể được phân loại trên cơ sở lĩnh vực (như Y tế, Giáo
dục, Nông nghiệp, phát triển cộng đồng) và mang tính sản xuất hoặc cung cấp dịch
vụ. Dự án cũng có thể được phân định theo hạn định thời gian (ngắn hạn, trung hạn
hay dài hạn).
1.1.4. Các nhân tố cơ bản của dự án
1.1.4.1. Nguồn vốn của dự án:
Các dự án tại Việt Nam được đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng quan
chiếm tỉ trọng lớn nhất là từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước, nguồn vốn hỗ trợ phát
Nguyễn Mai Linh Kiểm toán 46A
7
Luận văn tốt nghiệp
triển không chính thức (ODA), nguồn vốn từ các tổ chức phi chính phủ (NGO), các
tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, nguồn viện trợ của chính phủ các nước,… Nguồn vốn
đầu tư được lập dựa trên căn cứ về mục tiêu của dự án, do đó việc lập dự toán ngân
sách là rất cần thiết để thực hiện các kế hoạch đầu tư, sản xuất kinh doanh,… hoàn
thành mục tiêu của dự án. Nhà đầu tư và ban quản lý dự án phải xây dựng một
phương án, kế hoạch để phân phối nguồn quỹ cho các hoạt động của dự án một cách
hợp lý nhằm bảo đảm thực hiện tốt các mục tiêu về chi phí, tiến độ, mục đích của dự
án. Dự toán ngân sách của dự án có thể được thực hiện theo cấp quản lý từ trên
xuống hoặc từ dưới lên hoặc kết hợp của cả hai cấp quản lý.
Nguồn vốn của dự án có thể chia thành nguồn vốn lưu động và vốn cố định.
Vốn cố định bao gồm các khoản chi phí chuẩn bị trước khi thực hiện dự án như chi
phí thành lập, nghiên cứu dự án, lập hồ sơ, trình duyệt dự án, chi phí quản lý ban đầu
đối với dự án, chi phí về cơ sở hạ tầng ban đầu,… Vốn lưu động bao gồm các chi phí
phát sinh trong suốt đời dự án như: chi phí lương chuyên gia, chi phí lương cho cán
bộ nhân viên, chi phí đi lại, chi phí văn phòng phẩm,…
Vốn được giải ngân trong suốt quá trình thực hiện dự án theo tiến độ phù hợp
với nhu cầu của dự án, cho các mục đích cụ thể đã được lập kế hoạch. Quy trình giải
ngân có thể được thực hiện theo hai phương pháp:
• Ban quản lý dự án định kỳ lập kế hoạch về chương trình hoạt động của dự
án, những bản kế hoạch này cũng chính là dự toán về chi phí mà dự án cần
thực hiện. Thông qua bản dự toán ngân sách do ban quản lý dự án lập, chủ
đầu tư sẽ phê duyệt và quyết định sự hợp lý của từng chi phí sau đó tiến
hành giải ngân cho dự án theo thời gian và tiến độ phù hợp.
• Việc giải ngân cho dự án đã được quy định rõ ràng trong hợp đồng giữa ban
quản lý dự án và chủ đầu tư, do đó định kỳ, chủ đầu tư tiến hành giải ngân
theo tỉ lệ % nhu cầu đã thỏa thuận trong hợp đồng của dự án.
Hầu hết các dự án đều được giải ngân qua tài khoản tiền gửi tại ngân hàng của
chủ đầu tư dự án và ban quản lý dự án, có thể thông qua ngân hàng trung gian.
Nguyễn Mai Linh Kiểm toán 46A
8
Luận văn tốt nghiệp
1.1.4.2. Chủ đầu tư dự án.
Chủ đầu tư dự án có thể là người sở hữu vốn hoặc người được giao quản lý và
sử dụng vốn để thực hiện dự án. Các dự án sử dụng vốn Ngân sách nhà nước, chủ
đầu tư do người phê chuẩn quyết định đầu tư tiến cử và quyết định trước khi lập dự
án đầu tư theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. Đối với các dự án sử dụng
vốn tín dụng, chủ đầu tư là người vay vốn đầu tư. Đối với các dự án sử dụng vốn đầu
tư hỗn hợp, chủ đầu tư là người có tỷ lệ vốn góp lớn nhất hoặc do các thành viên góp
vốn thỏa thuận cử ra. Đối với các dự án đầu tư khác, chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn
hoặc người đại diện theo quy định của pháp luật.
1.1.4.3. Trình tự tiến hành dự án
Cho đến nay, vẫn chưa có một sự thống nhất về các quy trình của một dự án cụ
thể gồm những bước gì và được phân chia như thế nào. Tuy nhiên đối với đa số các
dự án phát triển, quy trình dự án thường bao gồm các bước khảo sát (xác định), thẩm
định, đàm phán thông qua, thực hiện và đánh giá. Việc phân chia các bước này nhiều
khi chỉ mang tính tương đối và các bước không tách rời nhau hoàn toàn mà tác động,
có khi bổ sung cho nhau.
►Khảo sát dự án
Khảo sát dự án là bước đầu tiên trong quy trình dự án, khi những người có liên
quan hình thành những ý tưởng chung về dự án. Yêu cầu của bước này là từ những
khó khăn của địa phương, xác định những nguyên nhân và tìm ra những giải pháp sơ
bộ. Trên cơ sở đó, ý tưởng về nguồn tài chính cho dự án cũng sẽ được hình thành (từ
Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ hay các tổ chức khác).
Sau ý tưởng đầu tiên về dự án được hình thành, dự án cần phải được xem xét
tổng thể lần đầu tiên, nhằm ước lượng quy mô dự án và sự cần thiết của dự án. Công
việc này thường được thể hiện trên cơ sở nghiên cứu những khía cạnh liên quan đến
dự án, bao gồm thị trường, kỹ thuật, nhân lực và thể chế, quản lý, tài chính, kinh tế,
môi trường và xã hội.
Khi dự án có triển vọng khả thi, nhiều tổ chức thực hiện thêm một bước là phân
tích chính xác hơn dự án về các mặt nêu trên nhằm nêu bật tính khả thi của dự án
Nguyễn Mai Linh Kiểm toán 46A
9
Luận văn tốt nghiệp
(nghiên cứu khả thi). Thông thường sẽ có những quyết định quan trọng đối với dự án
ở bước này.
Khi dự án mang tính khả thi cao và nguồn tài chính cho dự án được xác định,
bước tiếp theo là lập dự án tổng thể. Lưu ý là bước khảo sát cũng đã đòi hỏi phải có
văn bản dự án, song văn bản đó thường mang tính đơn giản, sơ bộ. Văn bản dự án chi
tiết cần nêu rõ xuất sứ, mục đích, mục tiêu và các hoạt động của dự án. Ngoài ra, các
dự án chi tiết cũng cần nêu rõ các nội dung: Đối tượng hưởng lợi; tham gia của địa
phương và cộng đồng; chi tiết dự toán ngân sách; cơ chế và kế hoạch thực hiện; Hiệu
quả và tính bền vững của dự án. Đối với một số dự án nhất định, cần phải có các tài
liệu kỹ thuật, khảo sát thị trường.
► Thẩm định dự án
Bước tiếp theo của quy trình là thẩm định dự án. Trên cơ sở dự án chi tiết, dự
án sẽ được tổ chức tài trợ hoặc một cơ quan chuyên môn thẩm định tổng thể về các
mặt kỹ thuật, tài chính, kinh tế, xã hội và môi trường cụ thể, phần thẩm định dự án sẽ
trả lời các câu hỏi: Dự án có khả thi về mặt kỹ thuật, có hợp lý và bền vững về mặt
tài chính, mang lại lợi ích cao cho cộng đồng thuộc khu vực dự án và đối với quốc
gia nói chung, có đảm bảo các mục tiêu xã hội của dự án, hay có bền vững về mặt
môi trường hay không.
• Thẩm định về thị trường (nếu là dự án mang tính dịch vụ, sản xuất hàng hoá);
• Thẩm định về mặt kỹ thuật (chủng loại trang thiết bị cần thiết, giá cả, nguồn
cung cấp, công nhân kỹ thuật);
• Thẩm định về nhân lực và thể chế (nhu cầu về nhân lực trong việc thực hiện
dự án, nguồn nhân lực tại chỗ; hệ thống hành chính liên quan đến dự án; tổ
chức thực hiện dự án đã phù hợp chưa);
• Thẩm định về quản lý (trả lời câu hỏi những người có trách nhiệm có đủ khả
năng thực hiện và vận hành dự án hay không);
• Thẩm định về tài chính (dự kiến chi phí, thu nhập);
• Thẩm định về kinh tế (vai trò của dự án trong phát triển kinh tế ở vùng dự
Nguyễn Mai Linh Kiểm toán 46A
10
Luận văn tốt nghiệp
án, khả năng ảnh hưởng tới các vung xung quanh và nền kinh tế quốc dân);
• Thẩm định về xã hội (vai trò của dự án trong việc thực hiện các mục tiêu xã
hội của Nhà nước, người hưởng lợi hoặch thiệt hại khi có dự án, phân tích
các nhóm người có liên quan).
►Đàm phán thông qua:
Sau khi dự án đã được thẩm định bước tiếp theo là thông qua dự án. Thực chất,
việc đàm phán về dự án có thể diễn ra ngay từ ban đầu và thường xuyên. Dự án có
được thông qua hay không cũng phụ thuộc một phần vào công tác thuyết minh và
giải trình của cơ quan chủ dự án.
►Thực hiện dự án
Dự án sẽ đi vào thực hiện sau khi được thông qua. Thực hiện dự án là khi các
hoạt động của dự án được tiến hành, ngân sách của dự án được chuyển, và hệ thống
vận hành của dự án đi vào hoạt động. Ưu tiên cao nhất của bước này là thực hiện các
hoạt động của dự án theo kế hoạch và trong phạm vi ngân sách đã quy định. Tuy
nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện dự án thường xảy ra những khó khăn
vướng mắc, những vấn đề phát sinh thường đòi hỏi thường xuyên có những thông tin
phản hồi về tiến triển dự án nhằm đưa ra những điều chỉnh phù hợp và kịp thời. Công
tác này đòi hỏi phải có một quá trình giám sát thường xuyên, tại chỗ.
Song song với việc thực hiện là công tác giám sát dự án. Giám sát việc thực
hiện dự án là công việc thường xuyên đối với những người trực tiếp tham gia quản lý
thực hiện dự án và các cấp, tổ chức có liên quan (chính quyền địa phương, các cơ
quan chức năng, tổ chức tài trợ). Giám sát là công tác không thể thiếu để đảm bảo dự
án thành công và chủ yếu diễn ra trên các mặt tiến độ, nhân lực, vật lực và tài lực.
Mục đich của giám sát là đảm bảo các hoạt động của dự án được thực hiện theo kế
hoạch, phát hiện các vấn đề phát sinh để kịp thời ra quyết định xử lý hoặc điều chỉnh
cần thiết.
►Đánh giá dự án:
Đánh giá dự án là hoạt động kiểm định dự án một cách tổng thể, trên cơ sở so
Nguyễn Mai Linh Kiểm toán 46A
11
Luận văn tốt nghiệp
sánh những nội dung đã nêu trong dự án ban đầu với thực tế. Mục đích chung của
đánh giá là tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu hay những tồn tại, phân tích nguyên
nhân để điều chỉnh dự án hoặc làm kinh nghiệm cho các giai đoạn tiếp theo hoặc các
dự án khác. Đánh giá dự án cũng được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi: Các mục tiêu
của dự án được thực hiện thành công đến đâu, vì sao.
Các hình thức đánh giá chủ yếu:
• Đánh giá thường xuyên: Việc đánh giá thường xuyên trong quá trình thực
hiện dự án (gần nghĩa với kiểm tra, song với mục đích tổng kết rút kinh
nghiệm);
• Đánh giá theo giai đoạn: Việc đánh giá sau khi mỗi giai đoạn dự án kết thúc
nhằm tổng kết rút kinh nghiệm cho các giai đoạn tiếp theo;
• Đánh giá kết thúc dự án: Việc đánh giá sau khi dự án kết thúc nhằm xác
định mức độ thành công của dự án và đưa ra kinh nghiệm cho các dự án tiếp
theo.
• Đánh giá ảnh hưởng: Đánh giá sau khi dự án kết thúc được nhiều năm nhằm
xem xét những tác động và ảnh hưởng về lâu dài của dự án trên các mặt
kinh tế, xã hội, môi trường ở vùng dự án cũng như các vùng lân cận.
Kết quả của công tác đánh giá thường được sử dụng làm cơ sở cho các dự án
khác hoặc các dự án tiếp theo. Nói cách khác, kết quả này được sử dụng cho các quá
trình khảo sát của những dự án đó
1.2. Khái quát về kiểm toán dự án
1.2.1. Vai trò của kiểm toán dự án
Kiểm toán dự án giữ vị trí quan trọng, cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ công
tác quản tài chính của nhà đầu tư dự án, cụ thể:
• Kết quả kiểm toán dự án đưa ra ý kiến đánh giá công tác quản lý, điều hành
thu, chi ngân sách; công tác quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản,
…gắn với trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị trong quản lý kinh tế, tài
chính, là nguồn thông tin quan trọng phục vụ cho chủ đầu tư giám sát hoạt
động dự án.
Nguyễn Mai Linh Kiểm toán 46A
12
Luận văn tốt nghiệp
• Kết quả kiểm toán dự án còn xác định rõ trách nhiệm cá nhân trong việc
quản lý kinh tế, tài chính không đúng quy định của pháp luật gây lãng phí,
thất thoát, tiêu cực kiến nghị với các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý theo
quy định của Nhà nước.
• Kết quả kiểm toán dự án cung cấp thông tin giúp chủ đầu tư giám sát việc
quản lý và sử dụng các nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ
• Kết quả kiểm toán dự án xác định số thu, chi cả về tổng số và chi tiết đến
từng khoản mục, đây là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá tình hình thực
hiện dự toán ngân sách ngân sách năm trước làm cơ sở cho chủ đầu tư dự án
phân bổ dự toán ngân sách dự án năm kế hoạch.
• Kết quả kiểm toán dự án đưa ra các ý kiến đánh giá, nhận xét về việc tuân
thủ luật, các cơ chế chính sách trong quản lý kinh tế, tài chính; thu, chi ngân
sách, kiến nghị với nhà đầu tư sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ chế, quy định,
chính sách.
• Kết quả kiểm toán dự án xác nhận tính trung thực, hợp pháp của báo cáo quyết
toán dự giúp chủ đầu tư phê chuẩn báo cáo quyết toán ngân sách dự án hàng
năm.
1.2.2. Mục tiêu của kiểm toán dự án
Theo chuẩn mực số 1000 “Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn
thành”, mục tiêu kiểm toán là xác định tính đúng đắn, trung thực của các Báo cáo
quyết toán vốn đầu tư, bao gồm: Đánh giá việc tuân thủ luật pháp, các chính sách,
chế độ của Nhà nước, tình hình quản lý và sử dụng vốn tại các đơn vị được kiểm
toán; Đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, tính hiệu quả, sự tác động, ảnh hưởng
của Dự án đối với địa phương, xã hội.
Mục tiêu của kiểm toán dự án cũng bao hàm trong mục tiêu kiểm toán nói
chung là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận tính
trung thực, hợp lý, hợp pháp của các báo cáo dự án.
“Trung thực” là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng sự thật nội
Nguyễn Mai Linh Kiểm toán 46A
13
Luận văn tốt nghiệp
dung, bản chất và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
“Hợp lý” là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh trung thực, cần thiết
và phù hợp về không gian, thời gian và sự kiện được nhiều người thừa nhận.
“Hợp pháp” là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng pháp luật,
đúng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận.
1.2.3. Đặc điểm của kiểm toán dự án
Kiểm toán dự án là một thành phần của kiểm toán tài chính bao gồm kiểm toán
bảng khai tài chính, kiểm toán tính tuân thủ, kiểm toán nghiệp vụ và kiểm toán hiệu
quả, hiệu năng. Kiểm toán dự án có những đặc điểm chung như sau:
►Đối tượng kiểm toán
Đối tượng của kiểm toán dự án là các Bảng khai tài chính của dự án chứa đựng
những thông tin tổng hợp phản ánh các mối quan hệ kinh tế, pháp lý cụ thể và các
báo cáo khác liên quan đến sự tuân thủ của ban quản lý dự án với các quy định, thủ
tục và chính sách của nhà nước. Theo quy định hiện hành, Báo cáo quyết toán vốn
đầu tư là hệ thống các báo cáo được lập theo chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và
các quy chế quản lý đầu tư hiện hành cũng như các quy định của pháp luật có liên
quan phản ánh thông tin kinh tế, tài chính và những thông tin quan trọng khác trong
quá trình đầu tư và thực hiện dự án. Hệ thống Báo cáo quyết toán vốn đầu tư được
quy định và hướng dẫn một cách cụ thể, rõ ràng tại Thông tư 45/2003/TT-BTC ngày
15 tháng 05 năm 2003 của Bộ tài chính, hệ thống Báo cáo quyết toán vốn đầu tư bao
gồm các bảng khai chính như sau:
• Báo cáo tổng hợp quyết toán vốn đầu tư hoàn thành.
• Các văn bản pháp lý có liên quan.
• Tình hình thực hiện đầu tư qua các năm.
• Quyết toán chi phí đầu tư để đề nghị quyết toán theo công trình, hạng mục
hoàn thành.
• Tài sản cố định mới tăng.
• Tài sản lưu động bàn giao.
Nguyễn Mai Linh Kiểm toán 46A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét