Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

vấn đề stress của công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố hồ chí minh


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "vấn đề stress của công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố hồ chí minh": http://123doc.vn/document/1052448-van-de-stress-cua-cong-nhan-o-mot-so-khu-che-xuat-khu-cong-nghiep-tren-dia-ban-thanh-pho-ho-chi-minh.htm


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, ở mỗi giai đoạn phát triển, con
người đều phải đối mặt với rất nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp nảy sinh trong cuộc sống, do đó con
người đều có nguy cơ bị stress. Nhiều nhà nghiên cứu về stress cho rằng xã hội càng phát triển, càng hiện
đại thì nguy cơ bị stress của con người ngày càng cao, đặc biệt trong xã h
ội mà chúng ta đang sống ngày
nay. Với sự phát triển của thời đại công nghiệp, bên cạnh việc nó làm cho điều kiện sống của con người
ngày càng tốt hơn thì mặt khác nó lại làm phát sinh rất nhiều những hệ lụy tiêu cực, trở thành những tác
nhân gây stress cho con người nhiều hơn. Xã hội càng hiện đại, nhịp sống ngày càng khẩn trương, gấp
gáp và đặt ra yêu cầu cao hơn ở con người, như Alvin Toffler đã chỉ
ra rằng những biến động xã hội
mạnh mẽ mau lẹ và liên tục là những tác nhân gây stress thời hiện đại [ 31, tr.232], tác động tâm lý của
sự biến động này gây ra tâm trạng mơ hồ và lo hãi có chiều hướng gia tăng. Khi xã hội có nhiều thay đổi,
con người phải trải nghiệm nhiều sức ép nếu bản thân không kiềm chế được thay đổi hoặc bị thay đổi áp
đặt từ bên ngoài, một khi cá nhân cảm thấy mất khả
năng kiềm chế và mất khả năng đoán trước được các
sự kiện thì sẽ gây ra căng thẳng và khi những sự thay đổi diễn ra với tốc độ quá nhanh cũng sẽ làm cho
con người cảm thấy bối rối vì nó vượt quá năng lực thích ứng của bản thân [31, tr.238].
Thật vậy, trong những năm gần đây stress là một vấn đề trở nên phổ biến trong đời số
ng xã hội, hầu
hết mọi người đã quen thuộc với thuật ngữ stress, stress có mặt trong mọi biến cố của cuộc sống, stress
xuất hiện ở mọi nơi, mọi hoàn cảnh sống của con người…Theo thống kê của tổ chức tư vấn doanh
nghiệp Grant Thornton International có trụ sở tại Anh, mức độ stress của các chủ doanh nghiệp trên
khắp thế giới đã tăng 57% vào năm 2006 so v
ới 39% hồi năm 2005 [70]. Một cuộc nghiên cứu khác
của các nhà xã hội học Anh nghiên cứu trên 6000 người từ 18 tuổi trở lên cho thấy có 63% phụ nữ bị
stress và 51 % nam bị stress [72]. Ngoài ra, kết quả khảo sát đánh giá stress ở Việt Nam do công ty
Hoffmann – La Roche thực hiện trong thời gian 2 tháng ( 8-10/2003) với 834 người cũng cho thấy tỷ lệ
bị stress bình quân ở nước ta là 52% [75]. Stress trong việc làm là vấn đề mà hầu hết mọi CN đều
vướng mắc không nhiều thì ít. Thống kê của hãng b
ảo hiểm Northwestern National Life cho thấy tới
40% CN than phiền bị stress trong công việc. Kết quả theo dõi của đại học Yale cho hay 29% CN bị
stress khá nặng vì công việc.
Các kết quả khảo sát trên cho thấy tỷ lệ người bị stress đang ngày càng gia tăng đáng kể trong xã
hội hiện nay. Stress có thể xảy ra với bất cứ ai, ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi ngành nghề khác nhau,
không chỉ trên thế giới, mà ở nước ta số ng
ười bị stress cũng khá cao.
Nước ta đang trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên xã hội còn rất nhiều khó khăn phức
tạp và có nhiều vấn đề nảy sinh nên con người luôn đứng trước nguy cơ bị stress. Trong những năm
gần đây, tại TPHCM ngày càng có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất được thành lập đã thu hút rất
nhiều CN từ khắp mọi miền đất nước tập trung đến để làm việc trong các nhà máy, xí nghi
ệp, doanh
nghiệp. Có thể nói trong giai đoạn nước ta đang chú trọng phát triển công nghiệp như hiện nay thì CN
là một lực lượng lao động rất quan trọng góp phần vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội. Tuy
nhiên, một thực tế cho thấy rằng đời sống CN đang còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn cả về vật
chất lẫn tinh thần bởi đa số họ là những người xuất thân từ nông dân, trình độ văn hóa không cao, và
chủ yếu là dân nhập cư phải sống xa gia đình, xa quê hương, đời sống kinh tế thấp …,chính những khó
khăn thiếu thốn ấy lại càng làm cho CN có nguy cơ
bị stress cao hơn, họ không chỉ có nguy có bị stress
trong công việc mà cả những áp lực, thách thức, khó khăn do cuộc sống thời đại hiện nay mang lại
cũng rất dễ làm cho CN bị stress. Một khi bị stress và không biết cách ứng phó thì stress sẽ ảnh hưởng
rất nhiều đến hiệu quả lao động của CN và sẽ gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế. Do đó, việc quan tâm
đến đời sống tinh thần của CN, đặ
c biệt là tình trạng stress của CN hiện nay để có những biện pháp hỗ
trợ kịp thời nhằm giúp giải tỏa stress là một việc làm rất cần thiết của mỗi doanh nghiệp nói riêng và
của xã hội nói chung.
Khi đứng trước những tác nhân gây stress nếu mỗi người được trang bị những kĩ năng ứng phó và
giải tỏa stress thì stress sẽ không phải là mối đe dọa to lớn nhưng ngược lại nếu không có s
ự hiểu biết
về stress, không có đủ khả năng để tự mình ứng phó với stress mà lại không nhận được sự hỗ trợ từ bên
ngoài thì khi đó stress sẽ là một mối đe dọa cho đời sống của mỗi người. Như đã nói, đặc điểm CN
đang làm việc tại TPHCM đa phần là có trình độ thấp, đời sống vật chất khó khăn, đời sống tin thần
thi
ếu thốn, việc tiếp cận thông tin còn nhiều hạn chế nên có thể nói những hiểu biết về stress và những
kĩ năng ứng phó, ngăn ngừa stress cũng ít nhiều còn hạn hẹp nên CN ắt hẳn rất cần đến sự hỗ trợ từ
phía xã hội, từ doanh nhiệp…để giúp họ đối diện, vượt qua stress một cách dễ dàng. Cho nên, việc tìm
hiểu nhu cầu của CN để có sự đáp
ứng kịp thời là một việc khẩn thiết và có ý nghĩa to lớn.
Chính thực tế cho thấy stress đang ngày càng phổ biến trong xã hội nên trong những năm gần đây
đã có nhiều công trình nghiên cứu về stress ở nước ta ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có ngành tâm
lý học. Các nhà tâm lý cũng đã bắt đầu nghiên cứu về stress trong lĩnh vực lao động, kỹ thuật, quản lý,
stress ở từng lứa tuổi. Một s
ố đề tài luận văn cao học tâm lý học cũng đã bắt đầu nghiên cứu stress ở tuổi
trung niên, stress ở học sinh, sinh viên, stress ở người trưởng thành và một vài khóa luận tốt nghiệp đã
bước dầu nghiên cứu về stress nghề nghiệp ở CN…nhưng riêng đối với vấn đề stress nói chung ở CN và
nhu cầu của họ về sự hỗ trợ từ bên ngoài để giúp ngăn ngừa và ứng phó với stress là m
ột vấn đề chưa
được nghiên cứu sâu ở một công trình nghiên cứu khoa học nào. Hơn thế nữa, đa phần những khách thể
nghiên cứu trong đề tài nghiên cứu chuyên ngành tâm lý học nước ta chưa chú trọng đến CN, một lực
lượng lao động khá đông và quan trọng của xã hội, cho nên việc nghiên cứu những vấn đề tâm lý trên
khách thể này là một hướng đi mới và rất cần thiết, góp phần làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu
trong chuyên ngành tâm lý học nước ta và trên cơ sở đó mang lại những lợi ích thiết thực cho CN về mặt
đời sống tinh thần.
Với những lý do đã trình bày, người nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài “ Vấn đề stress của
công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” nhằm tìm hiểu thực
trạng stress của CN về mặt lý luận và thực tiễn, cũng như
nhu cầu của CN về sự hỗ trợ xã hội trong
việc giải tỏa stress, qua đó thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đến vấn đề
stress của CN để góp phần nâng cao chất lượng đời sống tâm lý, tinh thần cho họ.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một cách khái quát vấn đề stress ở CN về mặt lý luận, thực tiễn, đồng thời khảo sát
nhu cầu của CN về sự hỗ trợ xã hội trong việc ngăn ngừa và ứng phó với stress. Trên cơ sở đó đề xuất
với các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội có những biện pháp cụ thể giúp CN ứng phó với stress và
nâng cao chất lượng cuộc sống về mặt tinh thần.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
400 CN đang trực tiếp làm việc tại khu chế xuất Tân Thuận, khu công nghiệp Tân Tạo, khu công
nghiệp Vĩnh Lộc trên địa bàn TPHCM
7 cán bộ quản lý trực tiếp và gần gũi CN
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Stress ở CN, nhu cầu hỗ trợ xã hội và các giải pháp từ sự hỗ trợ xã hội trong việc giúp CN ngăn
ngừa và ứng phó với stress
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu stress của CN trực tiếp lao động sản xuất trong các dây chuyền
và cơ sở sản xuất
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về stress nói chung và stress ở CN
5.2 Khảo sát thực trạng hiểu biết về stress của CN, mức độ stress, những biểu hiện stress , nguyên
nhân gây stress , cách ứng phó của CN với stress.
5.3 Khảo sát nhu cầu của CN về sự hỗ trợ xã hội trong việc giúp họ ứng phó với stress
5.4 Đề xuất những biện pháp từ sự hỗ trợ xã hội để giảm stress cho CN
6 . Giả thuyết nghiên cứu
6.1 Đa số CN đang làm việc ở các khu chế xuất, khu công nghiệp tại TPHCM chưa có hiểu biết đầy
đủ về stress và họ bị stress biểu hiện ở các mức độ khác nhau, tập trung ở mức độ thỉnh thoảng bị
stress. Có nhiều nguyên nhân gây ra stress, trong đó những yếu tố về đời sống vật chất, tình cảm, công
việc ảnh hưởng nhiều tới mức độ stress của CN. Stress tác độ
ng tiêu cực đến hiệu quả lao động và đời
sống của CN thể hiện qua những biểu hiện khi bị stress. Mặc dù CN đã có một số cách thức cụ thể để
ứng phó với stress nhưng họ vẫn có nhu cầu rất lớn về sự hỗ trợ xã hội để giúp ngăn ngừa và ứng phó
với stress.
6.2 Có sự khác biệt giữa các nhóm khách thể về mức độ của stress, sự
hiểu biết về stress .
7 . Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài gồm các vấn đề liên quan đến
stress nói chung và stress ở CN
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình ( case study)
- Phương pháp xử lý toán thống kê bằng phần mềm SPSS: tần số, trung bình, kiểm nghiệm Anova,
kiểm nghiệm T….
8 . Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa khoa học
Khái quát và hệ thống hóa những lý luận về stress dưới góc độ tâm lý học nói chung và stress ở
CN nói riêng. Góp phần làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu của chuyên ngành tâm lý học bằng
việc mở rộng nghiên cứu các vấn đề tâm lý, cụ thể là stress trên khách thể nghiên cứu là CN – một lực
lượng lao động quan trọng trong xã hội nhưng vẫn chưa được nhiều người quan tâm nghiên cứu.
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung c
ấp những kết quả thực tế những hiểu biết của CN về stress, thực trạng stress ở
CN, những nguyên nhân và ảnh hưởng của stress đến hiệu quả lao động và chất lượng cuộc sống của
CN, một số cách CN thường sử dụng để ứng phó với stress và hiệu quả của các biện pháp đó. Ngoài ra
còn giúp chúng ta thấy được nhu cầu hiện nay của CN về sự trợ giúp xã hội trong vi
ệc giúp ngăn ngừa
và ứng phó với stress một cách hiệu quả.
Từ những kết quả nghiên cứu trên, các nhà quản lý doanh nghiệp, các tổ chức xã hội như công
đoàn, trung tâm hỗ trợ thanh niên CN, quỹ hỗ trợ CN sẽ nắm bắt được thực trạng stress hiện nay của
CN và nhu cầu cần được hỗ trợ của CN thế nào để có những biện pháp hỗ trợ cụ thể nhằm ngăn ng
ừa
và giảm thiểu tình trạng stress cho CN về lâu dài, việc làm này một mặt thể hiện sự quan tâm của
doanh nghiệp, của đoàn thể xã hội đến CN, mặt khác làm cho hiệu quả kinh tế không ngừng được nâng
cao vì khi CN được quan tâm đến sức khỏe và cải thiện tình trạng stress kịp thời thì họ mới chuyên tâm
lao động, không để stress ảnh hưởng đến công việc.
Bên cạnh đó, kết quả của luận văn c
ũng cung cấp những số liệu cần thiết làm cơ sở cho các nhà
tâm lý học đề xuất xây dựng và đưa vào hoạt động mô hình tham vấn stress cho CN trực tiếp tại các
doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất ở TPHCM, đây sẽ là một cơ hội việc làm rất
tiềm năng cho những người tốt nghiệp ngành tâm lý học hiện nay.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress và stress ở CN
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress trên thế giới
Khi con người xuất hiện thì lúc đó stress cũng đã tồn tại trong cuộc sống của con người, tuy
nhiên người ta chưa nhận thức rõ ràng về những hiện tượng mà sau này được nhiều nhà khoa học gọi là
stress mà chỉ nghiên cứu nhiều khía cạnh của stress dưới những thuật ngữ khác nhau và chưa mang
tính hệ thống. Stress thật sự được quan tâm nghiên cứu một cách khoa h
ọc bắt đầu từ thế kỉ 17 bởi
Hooke với thuyết “Engineering Analogy” ( tương đồng cấu trúc) trong lĩnh vực kiến trúc xây dựng.
Hooke đã đưa ra các thuật ngữ “load” khối nặng đè lên cấu trúc, “stress “ phần bị khối nặng đè lên và
“strain” sự thay đổi hình dạng do tương tác giữa khối nặng và stress. Những khái niệm này có nhiều
nét tương đồng với những khái niệm liên quan đến stress tâm sinh lý về sau này : stress là những yêu
c
ầu bên ngoài đặt lên hệ tâm sinh lý xã hội [45,tr1]
Sau đó, stress được nhiều nhà sinh lý học quan tâm nghiên cứu: Ảnh hưởng sinh học của sự sợ
hãi được Luis Juan Vives miêu tả từ nhiều thế kỷ trước. Cơ sở cho hiểu biết của chúng ta về khái niệm
stress đã được nghiên cứu hơn một thế kỷ trước đây bởi nhà khoa học người Pháp Claude Bernard.
Ông là người đầu tiên nhận ra làm thế nào cơ thể nỗ lự
c để duy trì một trạng thái tương đối cố định bên
trong cơ thể trong một môi trường luôn thay đổi (Bernard, 1878)
Năm 1911, Walter Bradford, một sinh học gia Hoa Kỳ đã nhận thấy kích thích tố nang thượng
thận gia tăng khi cơ thể bị xúc động mạnh [64], những phát hiện này làm tiền đề cho những nghiên cứu
về mối liên hệ giữa stress và sức khỏe sau này.
Walter Cannon (1927) là nhà nghiên cứu đầu tiên mô tả một cách khái quát một phản ứ
ng đối
với sự đe dọa mà ông gọi là phản ứng “chống hoặc chạy” (fight or flight), mỗi khi các loài vật đối mặt
với kẻ săn mồi, chúng phải quyết định chống cự hay chạy trốn. Trong cả hai tình huống này, nhịp tim
và huyết áp tăng cao, tăng nhịp thở, tăng hoạt động cơ bắp. Thị lực và thính lực hoạt động mạnh hơn
để
đạt được hiểu qua tốt hơn. Theo ông, đây là một phản ứng được “cài đặt sẵn” về mặt sinh học, cho
phép mỗi sinh vật có thể ứng phó với những tác nhân gây đe dọa từ môi trường bên ngoài [10], [84] .
Kết quả nghiên cứu của Cannon được vận dụng trong những nghiên cứu về những chiến lược ứng phó
stress của con người sau này, hoặc là đối diện để giải quyết tác nhân gây stress hoặc là né tránh chúng.
Hans Hugo Bruno Selye, là người đã phổ biến từ ngữ stress trong công chúng khi ông phát hành
cuốn “The Stress of Life” vào năm 1956, và cũng là một người nghiên cứu rất nhiều về stress để rồi
những quan điểm của ông trở thành những luận điểm cơ bản, nền móng cho những nghiên cứu khoa
học về stress. Ông cho rằng bất cứ sự kiện nào đòi hỏi sự thích ứng đều làm khởi phát các đáp ứng sinh
lý đặc trưng cho stress, nh
ững đáp ứng này cũng có tính không đặc hiệu; các loại sự kiện gây stress
khác nhau đều dẫn đến những biến đổi tương tự nhau. Và gọi quá trình đáp ứng này là “hội chứng
thích nghi chung” (General Adaptation Syndrome - GAS) [64]. GAS ngụ ý chỉ những hoạt động thần
kinh và nội tiết cho phép cơ thể sinh vật chống lại những kích thích sinh lý có hại. GAS được chia làm
ba giai đoạn: báo động , kháng cự và kiệt quệ (exhaustion)[15],[84]. Mô hình GAS mặc dù có hạn chế
là chỉ mới đề cập đến yếu tố sinh lý, chưa đề cập đến yếu tố tâm lý những nó được xem là cơ sở hiểu
biết của chúng ta về stress . Selye còn tiếp tục những nghiên cứu của ông về stress với hàng trăm trang
luận cứ khoa học và 39 cuốn sách. [8], [52]
Một đi
ểm giống nhau trong lý thuyết của Selye và Cannon là sự xuất hiện các đáp ứng “chống
hoặc chạy” và GAS tùy thuộc vào sự nhận biết của sinh vật về các kích thích có hại và việc diễn giải các
kích thích này là có tính đe dọa hoặc có hại cho chúng hay không. Bổ sung thêm vào luận điểm này
Syrington, Currie, Curran, Davidson, (1955) và Mason (1975) đã thừa nhận: “khi các kích thích có hại
xảy đến mà không có sự nhận biết của đương sự, các đáp ứng sinh học sẽ
không xảy ra”. Đồng thời sự
xuất hiện phản ứng “chống hoặc chạy” và GAS phụ thuộc vào khả năng tiên đoán và kiểm soát các sự
kiện có hại. [84]. Đồng quan niệm với luận điểm này, một loạt nghiên cứu của Weiss (1968,1971) trên
chuột cũng đã cho thấy tầm quan trọng của những khả năng tiên đoán và kiểm soát đối với những sự kiện
đ
e dọa, và mối quan hệ giữa nó với bệnh loét dạ dày. Những phát hiện của Weiss cho thấy một sự kiện
đe dọa sẽ ít gây ra những hậu quả tai hại nếu chúng ta biết được khi nào nó sẽ xảy ra, nếu chúng ta có thể
làm được một việc gì đó trước sự kiện ấy, và nếu chúng ta nhận được những phản hồi về hiệu quả của
hành động ấy. Tầm quan tr
ọng của khả năng tiên đoán và kiểm soát cũng được thấy trong các đáp ứng
của con người đối với những tác nhân gây stress (Rodin, 1980) [84]
Nhiều người nghiên cứu cho rằng những nghiên cứu dựa trên quan điểm stress là một đáp ứng
sinh lý có tính không đặc hiệu - các loại sự kiện gây stress khác nhau đều dẫn đến những biến đổi tương
tự nhau là quan điểm đúng nhưng chưa thật đầ
y đủ. Vì vậy họ nghiên cứu stress theo quan điểm stress
như một sự kiện từ môi trường - tất cả các sự thay đổi tích cực hoặc tiêu cực từ môi trường, cuộc sống
đều có tính chất gây stress và mỗi một sự kiện nhất định đều có tính chất gây stress như nhau với tất cả
mọi người. Các nghiên cứu thực hiện theo quan điểm môi trường đều có bản chất dịch t
ễ học: số lượng
và mức độ của các sự kiện gây stress sẽ có tính tiên lượng cho tình trạng sức khỏe của đương sự. [84].
Tuy nhiên, sau này quan điểm stress như một sự kiên từ môi trường được đánh giá là cũng có hạn chế
trong việc giải thích tại sao lại có những sự kiện gây stress cho người này nhưng không gây stress cho
người khác.
Vào những năm 1970 và 1980, nhiều nhà nghiên cứu đã công bố các chương trình nghiên cứu
thự
c nghiệm nhằm tìm ra mối liên hệ giữa thay đổi cuộc sống và đau ốm. Điển hình cho những cuộc
nghiên cứu này là cuộc nghiên cứu của Thomas Holmes và Richard Rahe (1967), họ đã thiết kế một
thang đo mức độ stress đi kèm với các sự kiện thường gắn với cuộc sống hằng ngày gọi là thang đo sự
kiện cuộc sống (SRE: schedule of recent events - gồm 43 sự kiện cuộc sống) để
tìm ra những tình huống
nào trong cuộc sống có khả năng gây stress nhiều nhất [31, tr 243]. Ngoài ra cuộc nghiên cứu này cũng
đưa ra kết luận càng tích lũy nhiều khủng hỏang trong cuộc sống thì con người càng dễ bị đau ốm trong
khỏang thời gian nào đó [31, tr 247], [84]
Việc ra đời của SRE được xem là một đóng góp rất có giá trị trong việc nghiên cứu nhiều vấn đề
liên quan đến stress . Sau này, nhiều nhà nghiên cứu khác đã ứng dụng thang đo s
ự kiện cuộc sống vào
những nghiên cứu của mình như Patrich và Holmes (1987) nghiên cứu tương quan giữa những sự kiện
cuộc sống với thời gian mắc các bệnh mãn tính, A.L Beautrais và cộng sự (1982) lọc ra 20 trong 43
items trong thang đo nói trên để nghiên cứu dọc trên 1082 trẻ em theo dõi từ mới đẻ đến 4 tuổi, kết quả
cho thấy gia đình nào có 12 biến cố trở lên thì số lần trẻ em của gia đình đó phải vào viện gấp 6 lần so
với nhóm gia đình ch
ỉ có 3 biến cố và các bệnh thường gặp là viêm phổi, tiêu chảy, tai nạn, bỏng, ngộ
độc. H.A Williamson (1989) dùng thang đo trên để theo dõi 513 phụ nữ mang thai để nghiên cứu liên
quan giữa biến cố cuộc sống với các biến cố lúc chưa sinh. [31, tr 248-249].
Một hướng nghiên cứu khác về stress là nghiên cứu mặt tích cực của stress : những người này
cho rằng, stress không thể thiếu trong cuộc sống mà “thiếu stress” vì thế cũng có thể gây ảnh hưởng
tiêu cự
c (Frankenhaeuser, 1978), Những người được bảo vệ tránh stress quá mức có lẽ có nguy cơ cao
bởi vì họ không thể phát triển được những kỹ năng ứng phó cần thiết trong đời sống hằng ngày
(Murphy, 1979). Stress có thể dẫn đến những hệ quả tích cực. Giải quyết thành công những đe dọa và
thách thức sẽ đưa đến những cảm xúc tích cực, tạo nên những cảm giác về tính hữu dụng của bả
n thân
và sức khỏe thể chất [84]
Nhìn chung, hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về stress, có những nghiên cứu
thuần túy lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, thực tiễn trên một đối tượng nhất định hoặc kết hợp cả
hai trên nhiều lĩnh vực riêng lẻ y học, sinh học, tâm lý học, xã hội học hoặc những nghiên cứu liên
ngành. Những kết quả nghiên cứu đó giúp cho con ngườ
i hiểu biết thêm về stress và có cách ngăn chặn
những tác động của nó khi mà xã hội hiện nay stress đang ngày càng trở nên phổ biến. Riêng đối với
lĩnh vực tâm lý học, tác giả L.A .Kitaepxmưx (1983) đã thống kê các sách báo khoa học nghiên cứu
stress bằng tiếng Anh và Đức từ năm 1976-1980 có trên 1000 tài liệu được công bố [27, tr12] , cho đến
nay thì con số đó đã tăng lên đáng kể, điển hình là chỉ bằng thao tác tìm kiếm trên công cụ Google với
t
ừ chính xác “psychology of stress” thì có 6.018 kết quả, với cụm từ “ psychology studies on stress “
thì có 1.180 kết quả , đó là chưa kể đến những nghiên cứu không đưa lên internet và những ngôn ngữ
khác…điều này cho thấy tâm lý học hiện nay đã quan tâm nghiên cứu rất nhiều về stress, và nhiều
trường đại học trên thế giới đã nghiên cứu và đưa stress vào nội dung giảng dạy cho sinh viên, có thể
khái quát những xu hướng nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu nội hàm của khái niệm stress dưới góc
độ tâm lý học : Gatchel & Baum (1983) R.S.
Lazarus and S. Folkman (1984), S. Palmer (1999), nhà tâm lý học Mc Grath, Robert S. Feldman
(1997), Stephen Worchel và Wayne Shebilsue, bác sĩ Eric Albert, nhà tâm lý học, người sáng lập Viện
nghiên cứu stress
- Nghiên cứu stress tâm lý : bao gồm những biểu hiện về mặt tâm lý khi bị stress và những ảnh
hưởng tâm lý của stress đối với cá nhân, những phương pháp,liệu pháp tâm lý giải tỏa stress, cách
phòng ngừa stress về mặt tâm lý v.v …điển hình như một số nghiên cứu của Weiss (1972), Lagone
(1981), [19]
- Nghiên cứu những tác nhân gây stress, phân loại chúng và những ảnh hưởng của những y
ếu tố
tâm lý cá nhân đến việc xuất hiện và duy trì stress, cũng như loại bỏ nó như loại nhân cách và stress,
ảnh hưởng của cảm xúc và quá trình nhận thức đến stress …Fleming, Baum & Singer (1984), Paterson
& Neufeld (1987), Lazaus &Cohen (1977), Folkman (1984), Rodin (1986), Taylor (1991) v.v…[52]
- Nghiên cứu những cách ứng phó, đương đầu với stress : Folkman & Lazarus (1980) , Adwin &
Revénon (1987), Compas (1987), Miller, Brody & Summerson (1988), Amirkhan (1990), Sarason
(1990) v.v…[52]
- Nghiên cứu ảnh hưởng của stress trong mối liên hệ với tâm lý học sức khỏe, bệnh tật và những
rối loạn tâm lý, tâm thể, tâm lý học thần kinh v.v…như Mason (1975), Selye (1976), Kiecolt-Glaser
&Glaser (1986), Schneiderman (1983), Brown (1984), Eckenrode (1984) v.v…[52] Năm 1977,
Caroline Bedell Thomas đã công bố kết quả nghiên cứu từ năm 1946-1977, những người thường ki
ềm
nén cảm xúc, che giấu các tình cảm mạnh, cả tiêu cực, lẫn tích cực trước tình huống khó thì dễ bị ung
thư. Bên cạnh đó, stress làm giảm hiệu quả của các loại vacxin, làm suy giảm hệ thống miễn dịch
(nghiên cứu của giáo sư Janice Kiecolt Glaser và tiến sĩ y học Ronald Glaser, tiến sỹ y học Sheldon
Cohen ). Tiến sĩ y học William Malarkeep còn cho thấy stress còn ảnh hưởng đến cả tuổi tác và tuổi
thọ. Philip Cowen và Walter Kaye (1989) nghiên cứu sự
tác động của stress với rối loạn tiêu hóa [8]
- Nghiên cứu stress trong các chuyên ngành của tâm lý như tâm lý học lao động (stress nghề
nghiệp), tâm lý học kỹ thuật, tâm lý học gia đình (stress gia đình), tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học sư
phạm v.v, tâm lý học hành vi v.v hoặc nghiên cứu stress trên những đối tượng khác nhau (giáo viên,
bác sĩ, CN, phụ nữ, nam giới, sinh viên, nhà quản lý v. v…)
Tình hình nghiên cứu stress trên thế giới đã bắt đầu từ rất lâu và đang diễn ra rất phổ bi
ến nhưng
đối với Việt Nam, nghiên cứu về stress là một lĩnh vực còn khá mới mẻ, nhất là trong tâm lý học, stress
chỉ mới bắt đầu được nghiên cứu một cách khoa học trong mấy chục năm trở lại đây.
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress và stress của CN ở Việt Nam
1.1.2.1. Những nghiên cứu mang tính lý luận
Hiện nay, ở Việt Nam stress vẫn chưa được nghiên cứu nhiều như nhữ
ng vấn đề khác, trong các
trường đại học có chuyên khoa tâm lý học vẫn chưa đưa stress vào nội dung giảng dạy chính thức nên
chưa có một hệ thống lý luận chung cho vấn đề stress, chủ yếu những kiến thức người học biết được về
stress tham khảo từ những cuốn sách, bài viết trên các phương tiện thông tin hoặc từ kết quả nghiên
cứu của những lĩnh vực khác.
Có thể nói, mộ
t trong những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về stress là của tác giả Tô Như
Khuê vào những năm 60 của thế kỉ XX, với những tác phẩm và bài viết liên quan đến stress trong lĩnh
vực quân sự, trong lao động , kỹ thuật , đời sống cụ thể như “phòng chống trạng thái căng thẳng
(stress ) trong đời sống và lao động” năm 1976, “đại cương tâm lý học kỹ thuật quân sự” năm 1980, “
cảm xúc và căng th
ẳng cảm xúc trong lao động” năm 1995, “ đại cương tâm sinh lý học lao động và
tâm lý học kỹ thuật” năm 1997.
Sau đó, có thêm một số cuốn sách viết về stress được xuất bản cung cấp những kiến thức khái
quát về stress như định nghĩa stress , dấu hiệu nhận biết stress, hậu quả của stress, cách ứng phó với
stress như tác phẩm “ stress trong thời đại văn minh” của Phạm Ngọc Rao và Nguyễn H
ữu Nghiêm đề
cập đến stress như là một hiện tượng phổ biến của xã hội hiện đại, mọi người đều có nguy cơ bị stress và
chịu tác hại của nó vì thế cần có những cách phòng ngừa và loại bỏ stress. Tác phẩm “ Stress và sức
khỏe”, “ Cơ sở tâm lý học ứng dụng”, hoặc “ Tâm lý học và đời sống” của Đặng Phương Kiệt, Nguyễn
Khắc Viện….cung cấp một hệ thố
ng lý luận về stress làm cơ sở tham khảo lý luận cho những người
nghiên cứu về stress ở Việt Nam sau này, nhưng chủ yếu những nội dung trong các sách này được tham
khảo và dịch từ những tác phẩm nước ngòai. Hơn nữa , hai ông còn có một số bài viết về vấn đề stress ở
trẻ em . Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Nhận, Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Sinh Phúc với tác phẩm “ tâm
lý học y học” đã chỉ rõ tác hại c
ủa stress tiêu cực với sức khỏe con người và cách phòng chống stress tiêu
cực [dẫn theo 27, tr17]; Nguyễn Công Khanh với tác phẩm “ tâm lý trị liệu” đóng góp những liệu pháp
tâm lý trong việc giải tỏa stress.
1.1.2.2 Những công trình nghiên cứu thực tiễn về stress
Trong những năm gần đây, stress đã bắt đầu được nghiên cứu dưới dạng những nghiên cứu
mang tính thực tiễn, như một công trình nghiên cứu khoa học nhiều hơn, làm phong phú thêm những
hiểu biết của chúng ta về stress. Nếu như trước đây, chúng ta chỉ thấy có một vài công trình nghiên cứu
cấp bộ về stress của Tô Như Khuê từ năm 1983 -1995 nghiên cứu stress của các bộ đội hoặc các
phương pháp phòng chống, giải tỏa stress như dùng võ thuật . Thì hiện nay, chúng ta đã có thêm những
nghiên cứu về stress qua các hội thảo khoa học “ Những rối loạn có liên quan đến stress ở trẻ em và
thanh thiếu niên” do Viện sức khỏe tâm thần thuộc bệnh viện Bạch Mai tổ chức (1997) đã nghiên cứu
vấn đề stress trên đối tượng trẻ em và thanh thiếu niên; Hội thảo Việt – Pháp về tâm lý học “ trẻ em,
văn hóa, giáo dục” (2000) tập hợp những nhà tâm lý học, xã hội học đầu ngành của Việt Nam và thế
giới để trao đổi về những nghiên cứu liên quan đến trẻ em, trong đó các tác giả Nguyễn Công Khanh
đã có bài báo cáo về những rối nhiễu liên quan đến stress qua các trường hợp trị liệu điển hình, và Lại
Thị Bưởi cùng cộng sự với cuộc nghiên cứu “Tìm hiểu stress về thay đổi môi trường sống thanh thiếu
niên dân tộc ít người tại trường phổ thông vùng cao Việt Bắc” đã nêu ra những nhân tố tâm lý do thay
đổi môi trường sống gây ra stress và các biểu hiện về mặt cơ thể, tâm lý khi bị stress
Bên cạnh đó còn có những nghiên cứu về stress được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như
Nguyễn Bá Đạt ( 2001) “ Ảnh hướng của stress đến kết quả thi học kì của sinh viên”, nghiên cứu biểu
hiện tâm sinh lý và kết quả học tập của những sinh viên bị stress trong kì thi. Phạm Thị Thanh Hương
(2004) “ một số biểu hiện và mức độ stress ở sinh viên trong học tập” nghiên cứu mức độ stress nói
chung và stress ở sinh viên đại học sư phạm hà nội trong học tập, các biểu hiện và thực trạng việc sử
dụng các biện pháp giảm stress có hại ở sinh viên; Phạm Thanh Bình (2007) “ stress trong học tập của
học sinh trung học phổ thông” nghiên cứu nhận thức của học sinh THPT về stress , mức độ và nguyên
nhân gây stress trong học tập của học sinh THPT; Nguyễn Hữu Thụ và Nguyễn Bá Đạt (2009) nghiên
cứu những nguyên nhân và cách ứng phó của sinh viên đại học quốc gia Hà Nội với stress trong học tập;
Lê Thị Thanh Thủy (2009) với bài “ stress trong học tập và cách ứng phó ở học sinh cuối cấp trung học
phổ thông” nghiên cứu mức độ , nguyên nhân gây stress trong học tập, ảnh hưởng của stress tới học tập,
cách ứng phó với stress của học sinh cuối cấp THPT.
Ngoài ra, đã có thêm những công trình nghiên cứu dưới hình thức luận văn, luận án cũng đã
chọn stress làm vấn đề nghiên cứu như Nguyễn Mai Anh (1991) với luận văn cử nhân tâm lý bước đầu
tìm hiểu “stress của sinh viên trong học tập” đã nghiên cứu ảnh hưởng của stress đến chất lượng bài
thi của sinh viên; Nguyễn Thành Khải (2001) với luận án tiến sĩ “ Nghiên cứu stress ở cán bộ quản lý”
nghiên cứu mức độ, biểu hiện, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng tới stress và thựuc trạng sử dụng
các phương pháp làm giảm stress ở cán bộ quản lý, đây có thể được xem là công trình nghiên cứu đầu
tiên ở nước ta về vấn đề stress ở cán bộ quản lý và bổ sung thêm những lý thuyết về stress một cách hệ
thống; Nguyễn Thị Kim Quy (2004) với luận văn tốt nghịêp đại học “ Bước đầu tìm hiểu thực trạng
stress ở sinh viên trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM” nghiên cứu thực trạng, ảnh hưởng tiêu cực của
stress đến việc học tập và ứng xử của sinh viên; Gần đây có một số luận văn thạc sĩ tâm lý học đã
nghiên cứu về vấn đề stress trên các đối tượng khác nhau như Trần Anh Thụ (2005) “ Nghiên cứu
stress ở những người tuổi trung niên” đã nghiên cứu mức độ, nguyên nhân gây stress, biểu hiện về mặt
tâm lý, các biện pháp ứng phó với stress và tương quan giữa nhận thức và stress, kiểm nghiệm 2 biện
pháp giảm stress là thiền của Phật giáo và cầu nguyện của Công giáo ; Lại Thế Luyện (2007) “ biểu
hiện stress trong sinh viên trường ĐHSP Kỹ thuật Tp.HCM” đã nghiên cứu những biểu hiện , nguyên
nhân và cách ứng phó của sinh viên với stress trong học tập và cuộc sống; Nguyễn Thị Hải (2008) với
luận văn thạc sĩ “ nghiên cứu stress ở người trưởng thành” nghiên cứu mức độ, biểu hiện, nguyên
nhân, hậu quả của stress ở người trưởng thành và chứng minh hiệu quả của yoga đến việc giải tỏa
stress.
1.1.2.3 Những công trình nghiên cứu thực tiễn về stress ở CN
Với đối tượng CN, hiện nay đã có một số nghiên cứu về stress trên đối tượng này nhưng chủ
yếu ở lĩnh vực y học và xã hội học, có thể kể đến các công trình sau:
Cuộc khảo sát từ dự án “Bạn gái với các vấn đề xã hội” của Trung tâm công tác xã hội thanh
thiếu niên (Trung ương Hội LHTNVN) phối hợp với Công ty Diana thực hiện trên 326 nữ CN làm việc
tại ba khu công nghiệp - khu chế xuất TP.HCM là Tân Thới Hiệp, Tân Bình và Linh Trung, có phần
nghiên cứu về tình trạng stress ở CN và những việc họ thường làm khi bị stress [60], [79], đề tài mang
tính một cuộc nghiên cứu xã hội về một số nội dung liên quan đến stress ở CN nữ mà không nghiên
cứu ở nam
Lê Thị Bưởi , “Nghiên cứu sức khoẻ tâm thần và các Stress ở CN ngành may mặc”. Nghiên cứu
trên 1066 CN may mặc nhằm đánh giá thực trạng sức khỏe tâm thần và các căng thẳng (stress) nghề
nghiệp, xác định các yếu tố nguy cơ gây stress. [61], đề tài này chỉ giới hạn nghiên cứu stress ở CN
may mặc .
Nguyễn Bạch Ngọc , “Stress nghề nghiệp và sức khoẻ tâm thần của người vận hành” nghiên
c
ứu 84 nam CN vận hành công trình ngầm, tuổi từ 22-43, thâm niên công tác từ 1 đến 15 năm. Các thử
nghiệm đối với CN đã được đo 3 lần trong 1 ca (ca sáng) vào các thời điểm trước khi vào cao, trước
khi nghỉ ăn trưa và trước khi tan ca. Kết quả làm test Zung và Beck của 41 sinh viên được dùng để làm
chứng[78]. Đề tài này cũng chỉ nghiên cứu CN làm việc ở công trình ngầm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét