LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Phân tích và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty Cổ Phần Cơ Điện Hà Nội": http://123doc.vn/document/556498-phan-tich-va-de-xuat-bien-phap-nang-cao-hieu-qua-kinh-doanh-tai-cong-ty-co-phan-co-dien-ha-noi.htm
mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh doanh. Chính việc khan
hiếm các nguồn lực và sử dụng cũng có tính chất cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu
cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và
tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp
buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu lực của các
yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí.
Về mặt định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế
xã hội biểu hiện trong mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra.
Xét về tổng lượng thì hiệu quả thu được khi kết quả kinh tế đạt được lớn hơn chi
phí, sự chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao, sự chênh lệch này nhỏ thì
hiệu quả đạt được nhỏ.
Về mặt định tính: Hiệu quả kinh tế thu được là mức độ phản ánh sự nỗ lực
của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống kinh tế, phản ánh trình độ năng lực quản
lý kinh tế và giải quyết những yêu cầu và mục tiêu chính trị, xã hội.
Vì vậy, yêu cầu nâng cao kinh doanh là phải đạt được kết quả tối đa với
chi phí tối thiểu, hay phải đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định. Chi phí ở đây
được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn
lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội.
1.2.2 PHÂN BIỆT HIỆU QUẢ VÀ KẾT QUẢ
Để hiểu rõ bản chất hiệu quả ta cần phân biệt hiệu quả và kết quả. Kết quả
là số tuyệt đối phản ánh quy mô đầu ra của hoạt động sản xuất kinh doanh như
lợi nhuận, tổng doanh thu, tổng sản phẩm làm ra, giá trị sản xuất. Hiệu quả là số
tương đối phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được kết quả cao nhất
với chi phí nguồn lực thấp nhất bỏ ra.
Về bản chất, hiệu quả và kết quả khác nhau ở chỗ kết quả phản ánh mức
độ, quy mô, là cái mà doanh nghiệp đạt được sau mỗi kỳ kinh doanh, có kết quả
mới tính được hiệu quả, đó là sự so sánh giữa kết quả là khoản thu về so với
khoản bỏ ra là chính các nguồn lực đầu vào. Như vậy, dùng kết quả để tính hiệu
quả kinh doanh cho từng kỳ. Hiệu quả và kết quả có mối quan hệ mật thiết với
nhau nhưng lại có khái niệm khác nhau. Có thể nói, kết quả là mục tiêu của quá
trình sản xuất kinh doanh, còn hiệu quả là phương tiện để đạt được mục tiêu đó.
1.2.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH
1.2.3.1. CÁC NHÂN TỐ BÊN TRONG
1.2.3.1.1 Lực lượng lao động.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động của doanh
nghiệp có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử dụng để
tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Cũng chính lực
lượng lao động sáng tạo ra những sản phẩm mới với kiểu dáng phù hợp với cầu
của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp có thể bán
được tạo cơ sở nâng cao hiệu quả kinh doanh. Lực lượng lao động tác động trực
tiếp đến năng suất lao động, đến trình độ sử dụng các nguồn lực khác (máy móc,
thiết bị, nguyên vật liệu …) nên tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
Ngày nay sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế tri thức. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là hàm lượng
khoa học công nghệ kết tinh trong sản phẩm (dịch vụ) rất cao. Đòi hỏi lực lượng
lao động phải là lực lượng có trình độ khoa học kỹ thuật cao, điều này khẳng
định vai trò ngày càng quan trọng của lực lượng lao động đối với việc nâng cao
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.3.1.2 Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến
bộ kỹ thuật.
Công cụ lao động là phương tiện mà con người sử dụng để tác động vào
đối tượng lao động. Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với quá trình phát
triển của công cụ lao động, tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, chất lượng
sản phẩm và hạ giá thành. Như thế, cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố hết sức
quan trọng tạo ra tiềm năng năng suất, chất lượng và tăng hiệu quả kinh doanh.
Chất lượng hoạt động của doanh nghiệp chịu tác động mạnh mẽ của trình độ kỹ
thuật, tính đồng bộ của máy móc thiết bị, chất lượng của công tác bảo dưỡng,
sửa chữa máy móc.
1.2.3.1.3 Nhân tố vốn
Đây là một nhân tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông
qua khối lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh,
khả năng phân phối, đầu tư có hiệu quả các nguồn vốn cũng như khả năng quản
lý các nguồn vốn kinh doanh.
Yếu tố vốn là yếu tố chủ chốt quyết định đến quy mô của doanh nghiệp.
Nó phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp và là cơ sở đánh giá hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp trong kinh doanh.
1.2.3.1.4 Nhân tố quản trị doanh nghiệp.
Nhân tố quản trị doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến
việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng dắn trong môi trường kinh
doanh ngày càng biến động. Định hướng đúng là cơ sở để đảm bảo hiệu quả lâu
dài của doanh nghiệp.
Muốn tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh
tranh, các lợi thế về chất lượng và sự khác biệt hóa sản phẩm, giá cả và tốc độ
cung ứng để đảm bảo cho một doanh nghiệp giành chiến thắng trong cạnh
tranh phụ thuộc vào nhãn quan và khả năng quản trị của các nhà quản trị doanh
nghiệp.
Đội ngũ quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cao cấp lãnh đạo doanh
nghiệp bằng phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng, có tính chất
quyết định đến sự thành đạt của doanh nghiệp. Kết quả và hiệu quả hoạt động
của quản trị doanh nghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của
đội ngũ các nhà quản trị cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp,
việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, cá nhân và
thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó.
1.2.3.2 CÁC NHÂN TỐ BÊN NGOÀI
1.2.3.2.1 Môi trường chính trị - pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật,… Mọi quy định
pháp luật về kinh doanh đều tác động trực tiếp kết kết quả và hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Môi trường pháp lý đảm bảo tính bình đẳng của mọi
loại hình doanh nghiệp cùng hoạt động kinh doanh, cạnh tranh nhau một cách
lành mạnh, mỗi doanh nghiệp đều phải chú ý phát triển nội lực, ứng dụng thành
tựu khoa học kỹ thuật và khoa học quản trị tiên tiến nhằm phát triển kinh doanh
của mình.
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị - pháp luật chi phối mạnh mẽ đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự ổn định chính trị được coi là một
tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự thay đổi của
môi trường chính trị có thể ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này
nhưng lại kìm hãm sự phát triển của nhóm doanh nghiệp khác hoặc ngược lại.
Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và thực thi pháp luật trong nền kinh tế có ảnh
hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp.
Tóm lại, môi trường chính trị - pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến việc
nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách tác động đến hoạt động của doanh
nghiệp thông qua hệ thống công cụ luật pháp, công cụ vĩ mô…
1.2.3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường kinh doanh.
* Đối thủ cạnh tranh
Bao gồm các đối thủ cạnh tranh sơ cấp (cùng tiêu thụ các sản phẩm đồng
nhất) và các đối thủ cạnh tranh thứ cấp (sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm có
khả năng thay thế). Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng
cao hiệu quả kinh doanh sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều. Bởi vì doanh nghiệp lúc
này có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, giảm
giá thành sản phẩm để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu, tăng vòng quay
vốn, yêu cầu doanh nghiệp phải tổ chức lại bộ máy hoạt động tối ưu hơn, hiệu
quả cao hơn để tạo khả năng cạnh tranh về giá cả, chất lượng, mẫu mã… Như
vậy đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp đồng thời tạo ra sự tiến bộ trong kinh doanh, tạo ra
động lực phát triển của doanh nghiệp. Việc xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh
tranh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ càng khó khăn
và sẽ bị giảm một cách tương đối.
* Thị trường
Nhân tố thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu
ra của doanh nghiệp. Nó là yếu tố quyết định quá trình tái sản xuất mở rộng của
doanh nghiệp. Đối với thị trường đầu vào: cung cấp các yếu tố cho quá trình sản
xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị… Cho nên nó tác động trực tiếp đến
giá thành sản phẩm, tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất. Còn đối với
thị trường đầu ra quyết định doanh thu của doanh nghiệp trên cơ sở chấp nhận
hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp, thị trường đầu ra sẽ quyết định tốc độ tiêu
thụ, tạo vòng quay vốn nhanh hay chậm từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.2.4 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH
Khi xem xét hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, cần phải dựa vào
một hệ thống các tiêu chuẩn, các doanh nghiệp phải coi các tiêu chuẩn là mục
tiêu phấn đấu. Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là mốc xác định ranh
giới có hiệu quả hay không. Nếu theo phương pháp so sánh toàn ngành có thể
lấy giá trị bình quân đạt được của ngành làm tiêu chuẩn hiệu quả, hoặc có thể so
sánh với chỉ tiêu của năm trước. Cũng có thể nói rằng, các doanh nghiệp có đạt
được các chỉ tiêu này mới có thể đạt được các chỉ tiêu về kinh tế
1.2.4.1 CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ BỘ PHẬN
* Hiệu quả sử dụng lao động
- Sức sinh lợi bình quân:
Đây là chỉ tiêu phản ánh trình độ của cán bộ công nhân viên, chỉ tiêu này
càng cao chứng tỏ mỗi cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp đã tích cực lao
động để đạt được kết quả cao. Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
của doanh nghiệp, phản ánh tình trạng sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động.
- Năng suất lao động:
Chỉ tiêu này cho thấy với mỗi lao động tạo ra được bao nhiêu đồng lợi
nhuận trong kỳ. Chỉ tiêu này cao hay thấp phụ thuộc trình độ tay nghề công
nhân trong doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có đội
ngũ nhân viên lành nghề. Dựa vào chỉ tiêu này để so sánh mức tăng hiệu quả của
mỗi lao động trong kỳ.
* Hiệu quả sử dụng tài sản cố định (TSCĐ)
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Tổng số lao động
Năng suất lao động =
Tổng lợi nhuận trong kỳ
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Lợi nhuận bình quân
tính cho 1 lao động
=
TSCĐ
đầu kỳ
+ TSCĐ
cuối kỳ
2
TSCĐ bình quân =
Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá của tài sản cố định sinh bao
nhiêu đồng lợi nhuận.
Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá TSCĐ sinh ra bao nhiêu đồng
doanh thu. Chỉ tiêu này cao hơn kỳ trước chứng tỏ tài sản cố định của doanh
nghiệp hoạt động với công suất và chất lượng sản phẩm tốt hơn.
Chỉ tiêu này cho biết một đồng lợi nhuận có bao nhiêu đồng tài sản cố định
bình quân.
* Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động (TSLĐ).
Chỉ tiêu này cho biết một đồng giá trị tài sản lưu động sinh bao nhiêu đồng
lợi nhuận
Sức sản xuất TSLĐ hay còn gọi là vòng quay TSLĐ
Lợi nhuận
TSCĐ
nguyên giá
Sức sinh lợi TSCĐ =
Lợi nhuận
TSCĐ
bình quân
Suất hao phí TSCĐ
bình quân
=
Doanh thu
TSCĐ
bình quân
Sức sản xuất TSCĐ =
2
TSLĐ
đầu kỳ
+ TSLĐ
cuối kỳ
TSLĐ
bình quân
=
Lợi nhuận
TSLĐ
bình quân
Sức sinh lợi TSLĐ =
Doanh thu
TSLĐ
bình quân
Sức sản xuất TSLĐ =
Lợi nhuận
TSCĐ
giá trị còn lại
Sức sinh lợi TSCĐ =
Chỉ tiêu này cho biết một đồng giá trị TSLĐ bình quân sinh ra bao nhiêu
đồng doanh thu. Chỉ tiêu này cao hơn so bới kỳ trước chứng tỏ doanh nghiệp
hoạt động hiệu quả hơn kỳ trước và ngược lại nếu thấp hơn kỳ trước chứng tỏ
kinh doanh kém hiệu quả.
Số vòng quay tài sản lưu động:
Tài sản lưu động thường xuyên vận động qua các giai đoạn của quá trình
kinh doanh, việc đẩy nhanh tốc độ kinh doanh là góp phần giải quyết nhu cầu về
vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này cho biết một đồng lợi nhuận hay doanh thu thì cần bao nhiêu
đồng tài sản lưu động.
* Hiệu quả sử chi phí:
Hệ số này cho biết khi bỏ ra một đồng chi phí thì tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu, và thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ
doanh nghiệp đã sử dụng chi phí hợp lý về số lượng, chất lượng.
1.2.4.2 CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ TỔNG QUÁT
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, được dùng để phản ánh chính xác hoạt động kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp và được dùng để so sánh giữa các doanh nghiệp
360 ngày
Số vòng quay
Số ngày của 1 vòng quay =
TSLĐ bình quân
Lợi nhuận (doanh thu)
Hệ số đảm nhiệm của TSLĐ =
Doanh thu
Tổng chi phí
Sức sản xuất của chi phí =
Lợi nhuận thuần
Tổng chi phí
Sức sinh lợi của chi phí =
với nhau và so sánh trong doanh nghiệp qua các thời kỳ để xem xét các thời kỳ
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn hay không.
* Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu (CSH):
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả của doanh nghiệp bỏ một đồng vốn CSH ra sinh
lời được bao nhiêu lợi nhuận. Chỉ số này càng cao so với các kỳ trước chứng tỏ
doanh nghiệp ngày càng có lãi.
* Sức sinh lợi của vốn kinh doanh (VKD)
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn đầu tư thu về được bao nhiêu đồng lợi
nhuận, nó phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố vốn kinh doanh của doanh
nghiệp, nó phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Chỉ tiêu này càng lớn
chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn vốn của doanh nghiệp.
1.2.5 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
1.2.5.1 Phương pháp so sánh
Là phương pháp lâu đời nhất và được áp dụng rộng rãi nhất. So sánh
trong phân tích kinh tế là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được
lượng hóa có cùng một nội dung, một tính chất tương tự nhau.
Phương pháp so sánh có nhiều dạng:
- So sánh các số liệu thực hiện với các số liệu định mức hay kế hoạch.
- So sánh số liệu thực tế giữa các kỳ, các năm;
- So sánh số liệu thực hiện với các thông số kỹ thuật - kinh tế trung
bình hoặc tiên tiến
- So sánh số liệu của doanh nghiệp mình với số liệu của doanh nghiệp
tương đương hoặc đối thủ cạnh tranh.
- So sánh các thông số kỹ thuật - kinh tế của các phương án kinh tế
khác.
Lợi nhuận
trước thuế
Vốn CSH
Sức sinh lợi của vốn CSH =
Lợi nhuận
Tổng nguồn vốn
Sức sinh lợi của VKD =
Điều kiện so sánh phải đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ
tiêu, đảm bảo thông nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu, thống nhất về đơn vị
tính các chỉ tiêu về số lượng, thời gian, giá trị.
Khi so sánh mức đạt được trên các chỉ tiêu ở các đơn vị khác nhau ngoài
các điều kiện trên đã nêu, cần đảm bảo điều kiện khác như cùng phương hướng
kinh doanh và điều kiện kinh doanh tương tự nhau.
Trong phân tích có thể so sánh : Số tương đối, số tuyệt đối và số bình
quân.
Số tuyệt đối là số tập hợp trực tiếp từ các yếu tố cấu thành hiện tượng
kinh tế được phản ánh, như: tổng giá trị sản xuất, tổng chi phí kinh doanh, tổng
lợi nhuận… Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy được khối lượng quy mô của
hiện tượng kinh tế. Các số tuyệt đối được so sánh phải có cùng một nội phản
ánh, cách tính toán xác định, phạm vi, kết cấu và đơn vị đo lường.
Số tương đối là số biểu thị dưới dạng phần trăm số tỉ lệ hoặc hệ số. Số
tương đối đánh giá được sự thay đổi kết cấu các hiện tượng kinh tế, đặc biệt cho
phép liên kết các chỉ tiêu không tương đương để phân tích. Tuy nhiên, số tương
đối không phản ánh được chất lượng bên trong cũng như qui mô của hiện tượng
kinh tế.
Số bình quân là số phản ánh mặt chung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự
phát triển không đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng kinh tế. Số
bình quân có thể biểu thị dưới dạng số tuyệt đối (năng suất lao động bình quân,
vốn lưu động bình quân ), cũng có thể biểu thị dưới dạng số tương đối (hệ số
phí bình quân, hệ số doanh lợi…). Sử dụng số bình quân cho phép nhận định
tổng quát về hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, xây dựng các định mức kinh tế
kỹ thuật.
1.2.5.2 Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn là thay thế lần lượt số liệu gốc hoặc số
liệu kế hoạch bằng số liệu thực tế của nhân tố ảnh hưởng tới một chỉ tiêu kinh tế
được phân tích theo đúng logic quan hệ giữa các nhân tố. Phương pháp thay thế
liên hoàn có thể áp dụng được khi mối quan hệ giữa các chỉ tiêu và giữa các
nhân tố, các hiện tượng kinh tế có thể biểu thị bằng một hàm số. Thay thế liên
hoàn thường được sử dụng để tính toán mức ảnh hưởng của các nhân tố tác động
cùng một chỉ tiêu phân tích, nhân tố thay thế là nhân tố được tính mức ảnh
hưởng, còn các nhân tố khác giữ nguyên, lúc đó so sánh mức chênh lệch hàm số
giữa cái trước nó và cái đã được thay thế sẽ tính được mức ảnh hưởng của nhân
tố được thay thế.
Điều kiện để áp dụng: Các nhân tố phải có sự liên hệ với nhau dưới dạng
tích số.
Giả sử chỉ tiêu A có mối quan hệ với 2 nhân tố và mối quan hệ đó được
biểu hiện dưới dạng hàm số:
A = f(X,Y)
và A
0
= f(X
0
,Y
0
)
A
1
= f(X
1
,Y
1
)
Để tính toán ảnh hưởng của các nhân tố X, Y tới chỉ tiêu A, thay thế lần
lượt X, Y. Lúc đó, giả sử thay thế nhân tố X trươc Y ta có:
- Mức ảnh hưởng của nhân tố X đến chỉ tiêu A:
∆x = f (X
1
,Y
0
) - f (X
0
,Y
0
)
- Mức ảnh hưởng của nhân tố Y đến chỉ tiêu A:
∆y = f (X
1
,Y
1
) - f (X
1
,Y
0
)
Có thể bằng cách tương tự nếu ta thay thế nhân tố Y trước, nhân tố X sau,
ta có:
∆y = f (X
0
,Y
1
) - f (X
0
,Y
0
)
∆x = f (X
1
,Y
1
) - f (X
0
,Y
1
)
Như vậy, khi trình tự thay thế khác nhau, có thể thu được các kết quả khác
nhau về mức ảnh hưởng của cùng một nhân tố tới cùng một chỉ tiêu. Đây là
nhược điểm nổi bật của phương pháp này.
Xác định trình tự thay thế liên hoàn hợp lý là một yêu cầu khi sử dụng
phương pháp này. Trật tự thay thế liên hoàn thường quy định như sau:
- Nhân tố số lượng thay thế trước, nhân tố chất lượng thay thế sau
- Nhân tố ban đầu thay thế trước, nhân tố thứ phát thay thế sau
1.2.5.3 Phương pháp liên hệ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét