LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương của người lao động ở việt nam trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006": http://123doc.vn/document/1053287-mot-so-yeu-to-anh-huong-den-tien-luong-cua-nguoi-lao-dong-o-viet-nam-trong-giai-doan-tu-nam-2004-den-nam-2006.htm
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI
LAO ĐỘNG
1.1. KHÁI NIỆM TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG
DOANH NGHIỆP
Tiền lương là một phạm trù kinh tế xuất hiện từ khi có quan hệ sử dụng
sức lao động của một bộ phận dân cư trong xã hội bởi một bộ phận dân cư
khác. Trong thực tế, khái niệm tiền lương còn có nhiều tên gọi khác nhau như
tiền công, thù lao lao động, thu nhập lao động, … Những tên gọi này được sử
dụng đối với những nhóm lao động khác nhau hoặc cho những loại công việc
khác nhau.
Kinh tế học cho rằng quá trình sản xuất là sự kết hợp các yếu tố đầu vào
(vốn, lao động, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, …) để tạo ra các sản phẩm,
dịch vụ đầu ra. Vốn và lao động là hai yếu tố đâu vào cơ bản. Vốn thuộc
quyền sở hữu của một bộ phận dân cư trong xã hội, còn bộ phận dân cư khác,
do không có vốn, chỉ có sức lao động phải đi làm thuê cho những người có
vốn và đổi lại, họ nhận được một khoản tiền gọi là tiền lương.
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, khái niệm tiền lương đã dần
được mở rộng và bao hàm đầy đủ ý nghĩa kinh tế và xã hội. Đầu tiên là lý
thuyết tiền lương đủ sống (sau này trở thành lý thuyết về tiền lương tối thiểu)
xuất hiện từ cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, cho rằng mức tiền lương của lao
động phổ thông (không có tay nghề) sẽ được xác định ở mức bằng hoặc cao
hơn rất ít so với mức chi phí tối thiểu cần thiết cho người lao động và gia đình
họ. Tiếp theo là lý thuyết “tổng quỹ tiền lương”, cho rằng tiền lương là một
bộ phận của vốn ứng trước và được hình thành trước khi bắt đầu quá trình sản
xuất.
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
5
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Với sự phát triển của thị trường lao động và thị trường cạnh tranh hoàn
hảo vào đầu thế kỷ 20, dựa trên cạnh tranh tự do và quan hệ cung cầu đã xuất
hiện lý thuyết năng suất cận biên. Lý thuyết này cho rằng người sử dụng lao
động sẽ tiếp tục thuê thêm lao động đến một mức mà giá trị của sản phẩm do
người công nhân cuối cùng mang lại lớn hơn hoặc bằng chi phí tiền lương cho
anh ta. Từ những năm 30 của thế kỷ 20 trở lại đây, với sự ra đời của học
thuyết tiền lương linh hoạt, tiền lương co giãn, tiền lương được coi là yếu tố
đạt được trên cơ sở cân bằng cung - cầu lao động. Sự ra đời của học thuyết
thỏa ước lao động tập thể, tiền lương được hiểu là kết quả thương thuyết của
các bên có liên quan.
Có thể thấy rằng các lý thuyết về tiền lương đều có ý nghĩa trong những
hoàn cảnh nhất định và góp phần lý giải các khía cạnh khác nhau của khái
niệm tiền lương. Tuy nhiên, không một lý thuyết nào có thể giải thích được
mọi tình huống của tiền lương. Giá trị lớn nhất của các lý thuyết này là góp
phân thiết lập nguyên tắc “trả lương như nhau cho công việc có giá trị như
nhau”.
Tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp là sự trả công cho dịch
vụ lao động đã được thực hiện, thể hiện mối quan hệ giữa chủ sử dụng lao
động và người lao động. Về nguyên tắc, tiền lương phải trả đúng giá trị dịch
vụ lao động đã được cung ứng (giá cả sức lao động). Trong kinh tế thị
trường, tiền lương trong doanh nghiệp còn chịu tác động của các mức tiền
lương thịnh hành trên thị trường. Điều này có nghĩa là tiền lương cần đuợc trả
dựa theo quan hệ cung cầu trên thị trường lao động. Tuy nhiên, tại các quốc
gia áp dụng hệ thống tiền lương tối thiểu, các doanh nghiệp không được trả
lương cho người lao động thấp hơn mức tiền lương tối thiểu theo luật định
(luật về tiền lương tối thiểu). Ngoài ra, trong việc hình thành các mức tiền
lương trong doanh nghiệp, ngoài người lao động và người sử dụng lao động
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
6
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
còn có vai trò của tổ chức đại diện người lao động (công đoàn) trong việc
đàm phán và thương thảo tiền lương (thông qua cơ chế thỏa thuận). Trong
khi quy luật cung - cầu lao động chi phối nhiều đến mức tiền lương trong
ngắn hạn, thì khả năng thương thuyết của các bên lại quyết định mức tiền
lương trong dài hạn. Bên cạnh đó, mức lương còn chịu sự tác động điều chỉnh
của chính phủ như luật thuế thu nhập cá nhân, luật bảo hiểm xã hội và quyết
định của trọng tài. Lúc này, tiền lương không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa
kinh tế mà còn có nội dung xã hội. Trong một số trường hợp, tiền lương còn
được dùng trong các cuộc vận động chính trị, tranh cử và thu hút cử tri.
Tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp là số tiền (hoặc hiện
vật) mà người sử dụng lao động trả cho người lao động về sự cung ứng dịch
vụ lao động cho doanh nghiệp. Tiền lương có thể được trả theo thời gian hay
theo sản phẩm. Tiền lương thời gian trả cho công nhân trên cơ sở số giờ, ngày
, tuần hay tháng làm việc, còn tiền lương sản phẩm trả theo khối lượng công
việc hoàn thành. Dù trả theo thời gian hay theo sản phẩm thì tiền lương cũng
cần được xem xét trên hai khía cạnh: tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực
tế:
- Tiền lương danh nghĩa là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động vì những đóng góp lao động của họ.
- Tiền lương thực tế là giá trị lượng các loại hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ
mà người lao động có thể mua được bằng lượng tiền danh nghĩa nhận được.
Tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào tiền lương danh nghĩa mà còn
phụ thuộc vào giá cả các hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ. Tiền lương danh
nghĩa tăng không có nghĩa là tiền lương thực tế tăng nếu tốc độ tăng giá cao
hơn tốc độ tăng tiền lương.
1.2. CÁC CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TIỀN LƯƠNG
Các căn cứ chủ yếu bao gồm:
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
7
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Các quy định về tiền lương của Nhà nước.
Thông thường các quy định của nhà nước là yêu cầu bắt buộc và là giới
hạn tối thiểu mà các doanh nghiệp cần phải tuân thủ. Các quy định của nhà
nước về tiền lương bao gồm tiền lương tối thiểu, cơ chế thỏa thuận tiền lương,
thỏa ước lao động tập thể, các quy định về tiền lương khác mang tính bắt
buộc.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một biến số quan trọng của tiền lương, thể
hiện khả năng trả lương của doanh nghiệp. Các biến số quan trọng nhất về
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp liên quan đến tiền lương là
năng suất lao động, lợi nhuận, thị phần. Một số nghiên cứu cho thấy lợi nhuận
tăng lên 10% thì sẽ làm cho tiền lương tăng lên 1%. Trong phân phối tiền
lương và thu nhập tại doanh nghiệp, việc căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinh
doanh là nhằm đảm bào hài hòa lợi ích giữa người lao động với lợi ích của
doanh nghiệp.
Cung cầu lao động và các mức lương trên thị trường lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là biều hiện của giá cả sức lao
động. Tiền lương chịu sự chi phối của quan hệ cung cầu lao động, chi phí lao
động trong doanh nghiệp, cũng như các loại chi phí đầu vào khác. Quan hệ
cung cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương của doanh nghiệp và
được thể hiện như sau:
- Khi cung cầu lao động trên thị trường lao động đạt mức cân bằng thì tiền
lương có xu hướng dừng lại ở mức tiền lương cân bằng.
- Khi cầu lao động tăng lên và mức cung không tăng lên tương ứng thì
mức tiền lương sẽ có xu hướng tăng lên, ngược lại tiền lương sẽ có xu hướng
giảm xuống.
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
8
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Trong thực tế, các mức lương đang thịnh hành trên thị trường đối với từng
loại lao động là căn cứ quan trọng để các doanh nghiệp quyết định của mình.
Trong điều kiện thị trường lao động ngày càng phát triển, việc xác định các
mức lương cạnh tranh ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh
nghiệp.
Mức độ đóng góp lao động của người lao động.
Trong thực tế, việc trả lương cho người lao động phải căn cứ vào mức độ
đóng góp lao động cụ thể của từng người. Yêu cầu này xuất phát từ nguyên
tắc cơ bản trả lương như nhau cho lao động có giá trị như nhau. Giá trị/kết
quả lao động có thể được đo lường thông qua thời gian làm việc thực tế (số
giờ công hay ngày công), khối lượng (nhiệm vụ) công việc hoàn thành (lượng
sản phẩm/công việc hoàn thành), chất lượng công việc hoàn thành theo các
quy định về quy cách, tiêu chuẩn, thời hạn, … Mức độ đóng góp còn phụ
thuộc vào trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề, thâm niên và kinh nghiệm
công tác.
Để xác định tiền lương dựa vào mức độ đóng góp (kết quả lao động) của
cá nhân thì 2 việc sau đây cần thiết phải làm: thứ nhất, chức danh phải được
xác định rõ ràng bằng phương pháp đánh giá nghề và công việc; mục tiêu cá
nhân trong kỳ hạn tiền lương phải được xác định rõ ràng và phải đo đếm
được; thứ hai, phải có hệ thống thẩm định kết quả lao động và phương pháp
xếp lương theo hiệu quả.
Một số yếu tố có tính chất khuyến khích.
Trong nhóm này có thể kể đến thái độ lao động, tinh thần trách nhiệm và
sự gắn bó đối với doanh nghiệp; tình hình thực hiện an toàn lao động, thâm
niên công tác, sự đóng góp đối với doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp áp
dụng các loại phụ cấp thu hút, phụ cấp khuyến khích, tạo điều kiện làm việc,
đào tạo, phát triển và thăng tiến nhằm tuyển mộ và giữ chân người tài.
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
9
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Những căn cứ khác.
Ngoài những căn cứ chính nêu trên, tùy theo tình hình cụ thể mà các doanh
nghiệp có thể căn cứ vào những yếu tố khác nhau để xây dựng cơ chế tiền
lương như tỷ lệ giữa chi phí lao động so với tổng chi phí sản xuất; các loại kỹ
năng mà doanh nghiệp cần có; mức năng suất cá nhân cần có để đạt được
mức sản lượng đầu ra dự kiến; sự thích hợp của các phương pháp trả lương;
những tiến bộ của khoa học công nghệ có ảnh hưởng đến tổ chức và bố trí lao
động; mức độ ổn định kinh doanh và tuyển dụng lao động; tương lai phát
triển của doanh nghiệp; quy mô thị trường lao động; xu hướng biến động của
giá cả sinh hoạt; phong trào công đoàn.
1.3. PHÂN PHỐI TIỀN LƯƠNG – MỐI QUAN HỆ GIỮA NGƯỜI LAO
ĐỘNG VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Phân phối tiền lương là nội dung rất quan trọng trong hệ thống quản lý lao
động của doanh nghiệp, nó thể hiện mối quan hệ giữa “làm” và “ăn”, giữa
“đóng góp” và “hưởng thụ”. Phân phối tiền lương có mối quan hệ chặt chẽ
với phân công, bố trí và sử dụng lao động trong doanh nghiệp. Phân phối tiền
lương không chỉ thể hiện mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người
lao động, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa những người lao động với nhau.
Nó không chỉ thể hiện mối quan hệ tiền lương trong nội bộ doanh nghiệp, mà
còn thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp với phần còn lại của xã hội, giữa
các doanh nghiệp với nhau, giữa các ngành, các khu vực, các vùng và các
quốc gia với nhau.
Phân phối tiền lương có quan hệ chặt chẽ với mức độ đóng góp lao động
và kết quả lao động (trả lương theo thời gian hay theo sản phẩm). Như vậy,
phân phối tiền lương có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cả người lao động
và cả doanh nghiệp.
Phân phối tiền lương không chỉ quan trọng đối với người lao động, mà cả
đối với người sử dụng lao động và chính phủ.
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
10
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
- Đối với người lao động: Tiền lương là nguồn thu nhập chính hay duy
nhất, là sự hoàn trả toàn bộ đầu tư vào vốn nhân lực (giáo dục và đào tạo) và
là thước đo phản ánh địa vị xã hội của mỗi người. Ở nhiều nước phát triển,
nơi mà số người làm công ăn lương chiếm đa số trong lực lượng lao động,
tiền lương trả cho người lao động có thể đến 60% thu nhập quốc dân (national
income). Người lao động và gia đình họ chủ yếu dựa vào tiền lương để trang
trải các chi phí cho cuộc sống như ăn, ở, mặc và các nhu cầu thiết yếu khác
cho cuộc sống. Tại các nước đang phát triển, mặc dù còn hiện tượng tiền
lương thấp, tiền lương “không đủ sống”, song tiền lương luôn là vấn đề trung
tâm trong mọi cuộc thảo luận về quan hệ lao động;
- Đối với người sử dụng lao động: Chi phí tiền lương nói riêng và chi phí
lao động nói chung là một cấu phần quan trọng của chi phí sản xuất. Tiền
lương trong chi phí sản xuất là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong mối quan hệ này, tiền lương (chi
phí lao động) được so sánh với giá trị gia tăng, hay nói cách khác là tiền
lương phải được so sánh với năng suất lao động. Đối với doanh nghiệp, mức
độ chi phí tiền lương (chi phí lao động) thể hiện khả năng tuyển dụng và duy
trì lực lượng lao động cần thiết và là chỉ số quan trọng về chính sách quản lý
nguồn nhân lực. Vấn đề tiền lương luôn là trọng tâm trong các chính sách của
doanh nghiệp;
- Đối với chính phủ: Tiền lương là một trong những chính sách kinh tế -
xã hội quan trọng nhằm phân phối và điều tiết thu nhập, phân bố và sử dụng
có hiệu quả nguồn nhân lực. Các chính phủ rất quan tâm đến tiêu chuẩn tiền
lương vì chúng có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định và bầu không khí trong xã
hội. Ngoài ra, chính phủ còn là một người sử dụng lao động lớn. Ở nhiều
nước đang phát triển, chính phủ là người sử dụng lao động lớn nhất, do đó
chính phủ rất quan tâm đến các mức lương trên thị trường.
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
11
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Mục đích của phân phối tiền lương trong doanh nghiệp là đảm bảo sự công
bằng giữa cống hiến và hưởng thụ. Lao động ngang nhau thì hưởng thụ ngang
nhau. Về mặt kinh tế, mọi quan hệ trao đổi được coi là công bằng khi chúng
được thực hiện theo nguyên tắc ngang giá. Sự công bằng trong phân phối
hoàn toàn không đồng nghĩa với phân phối bình quân. Thực tế, sự phân phối
bình quân trong nhiều năm trước đây (ngay cả hiện nay vẫn chưa khắc phục
được) là một sai lầm và hậu quả của nó là triệt tiêu động lực và phấn đấu của
các cá nhân và tập thể. Chính vì thế mà Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định
phải thực hiện nguyên tắc phân phối “Áp dụng hình thức trả lương gắn chặt
với kết quả lao động và hiệu quả kinh tế”. Như vậy, để đảm bảo công bằng
trong phân phối tiền lương cần thực hiện nguyên tắc làm công việc gì thì
hưởng lương theo công việc đó.
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
12
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2004 - 2006
Chương này mô tả một số đặc điểm cơ bản về tiền lương của người lao
động trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006 theo một số chỉ tiêu sau:
+ Giới tính của người lao động
+ Nhóm tuổi của người lao động
+ Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và số năm đi học của
người lao động
+ Địa bàn cư trú của người lao động
+ Vùng kinh tế của người lao động
+ Ngành kinh tế của người lao động
+ Kinh nghiệm làm việc của người lao động
Chương này tập trung trả lời các câu hỏi sau:
- Ở từng năm tiền lương của người lao động trong các nhóm là bao nhiêu
và biến động như thế nào qua các năm?
- Sự biến động này nói lên điều gì?
Trả lời những câu hỏi này sẽ cung cấp những thông tin rất hữu ích cho việc
đánh giá ảnh hưởng của nó đến tiền lương của người lao động ở Việt Nam
trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006.
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM CÔNG ĂN LƯƠNG
2.1.1. Giới tính
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế
46
13
Chuyên dề tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Biểu 2.1a. Tiền lương bình quân của người lao động chia theo thành thị nông thôn và theo giới tính
Giói tính
Tiền lương bình quân tháng (nghìn đồng)
2004 2006
Khu vực Khu vực
Thành thị Nông thôn Tổng số Thành thị Nông thôn Tổng số
Nam
1,258.43 748.76 937.39 1,562.04 1,006.92 1,217.20
Nữ
1,014.91 627.51 801.40 1,297.04 838.73 1,038.91
Tổng số
1,153.44 705.90 885.09 1,447.62 944.01 1,146.38
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra Mức sống 2004-2006
Biểu 2.1b. Cơ cấu lao động làm công ăn lương chia theo thành thị nông thôn và theo giới tính
Giói tính
Cơ cấu lao động làm công ăn lương
2004 2006
Khu vực Khu vực
Thành thị Nông thôn Tổng số Thành thị Nông thôn Tổng số
Nam
37.01 62.99 100.00 37.88 62.12 100.00
Nữ
44.89 55.11 100.00 43.68 56.32 100.00
Tổng số
40.04 59.96 100.00 40.18 59.82 100.00
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra Mức sống 2004-2006
Đinh Mỹ Hương Toán kinh tế 46
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét