LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Giải pháp đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam": http://123doc.vn/document/546363-giai-phap-day-manh-co-phan-hoa-dnnn-o-viet-nam.htm
Nh vậy sự xuất hiện của các công ty cổ phần theo lí luận của C.Mac là kết quả
của sự phát triển của lực lợng sản xuất và là bớc tiến từ sở hữu t nhân lên sở hữu
tập thể của các cổ đông.
Quá trình cổ phần hóa một bộ phận DNNN ở nớc ta có nhiều nét đặc thù,
đó là cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nớc, thuộc sở
hữu xã hội, toàn dân. Mục tiêu cơ bản của việc chuyển một bộ phận DNNN
thành công ty cổ phần là nhằm hoàn thiện quan hệ sản xuất, phù hợp với tính
chất trình độ của lực lợng sản xuất, nâng cao hiệu quả của DNNN. Cụ thể là tìm
một hình thức quản lí vừa phát huy quyền làm chủ của ngời lao động vừa đảm
bảo quản lí một cách có hiệu quả tài sản của doanh nghiệp.
Chúng ta đã đa ra nhiều hình thức công ty cổ phần nhng có thể gói gọn trong hai
nhóm chính:
Nhóm các công ty cổ phần trong đó Nhà nớc có tham gia cổ phần nh: Giữ
nguyên giá trị của doanh nghiệp kêu gọi thêm vốn bằng cách phát hành thêm cổ
phiếu, bán một phần tài sản doanh nghiệp, cổ phần hóa một bộ phận doanh
nghiệp. Tất cả các hình thức cổ phần hóa theo ba dạng trên thì Nhà nớc hoặc là
nắm giữ cổ phiếu khống chế(51%) hoặc là không nắm giữ cổ phiếu khống chế.
Loại hình cổ phần hóa theo thể thức Nhà nớc bán toàn bộ doanh nghiệp cho ngời
lao động. Nhằm rút vốn, đầu t vào những ngành lĩnh vực quan trọng, then chốt,
địa bàn quan trọng. Không nhất thiết phải giữ tỷ trọng lớn trong tất cả các
ngành, lĩnh vực, sản phẩm của nền kinh tế.
Dù tồn tại dới bất kì hình thức nào thì công ty cổ phần là một loại hình doanh
nghiệp đa sở hữu. khi ngời lao động tham gia mua cổ phần của doanh nghiệp thì
họ cũng đã gắn lợi ích của bản thân vào lợi ích của doanh nghiệp, tạo ra sự giám
sát tập thể đối với đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra cơ chế
phân phối hài hòa giữa doanh nghiệp, Nhà nớc và ngời lao động. Nhờ đó mà
hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp có điều kiện đợc nâng lên.
Nh vậy có thể nói quá trình cổ phần hóa một bộ phận DNNN không phải là quá
trình t nhân hóa. Bởi vì Nhà nớc chỉ nắm giữ những ngành, những lĩnh vực cần
thiết, vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nớc không những không đợc cũng
cố mà còn có thể bị yếu đi nếu cứ tiếp tục duy trì những doanh nghiệp hiệu quả
thấp, năng lực cạnh tranh kém. Việc bán toàn bộ tài sản chỉ đợc áp dụng đối với
các doanh nghiệp mà Nhà nớc không cần nắm giữ, những lĩnh vực mà khu vực
dân doanh hoàn toàn có thể làn tốt hơn DNNN. Nhà nớc sẻ lựa chọn hình thức
bán phù hợp và nếu bán theo cách để cho ngời lao động có cổ phần u đãi hay cổ
phần không chia thì rõ ràng không thể nói đó là t nhân hóa.
Cổ phần hóa cũng xuất phát từ yêu cầu đổi mới DNNN. DNNN nắm giữ trong
tay những nguồn lực của nền kinh tế nh tài nguyên thiên nhiên, vốn và nhân lực.
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
Việc sử dụng lãng phí, không hiệu quả cao các nguồn lực khan hiếm là một
trong những nhân tố làm chậm tiến trình phát triển kinh tế của nớc ta. Tốc độ
tăng trởng cao của nền kinh tế nớc ta trong những năm qua không có nghĩa là
nền kinh tế chúng ta đang vận hành trơn tru mà sự tăng trởng cao đó nh các tổ
chức kinh tế thế giới đã cảnh báo là do chúng ta có xuất phát điểm thấp. Hiện
nay mối quan hệ gia nhà nớc và các DNNN là không rõ ràng, để duy trì các
doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả Nhà nớc đã sử dụng hàng loạt các biện pháp
trực tiếp và gián tiếp nh : xóa nợ, khoanh nợ, tăng vốn, u đãi tín dụng Và nh
vậy DNNN trở thành đối tợng trợ cấp của xã hội, và xã hội trở thành chổ bấu
víu cho các DNNN
làm ăn thua lỗ. Theo báo cáo tổng kiểm kê tài sản và xác định lại giá trị tài sản
của DNNN thì thực trạng nh sau: tổng giá trị tài sản của DNNN theo sổ sách
kế toán là 517.654 tỷ đồng, theo giá kiểm kê xác định lại là 527.256 tỷ đồng;
số nợ phải thu là 187.091 tỷ đồng chiếm 35% giá trị tài sản của doanh nghiệp,
gấp 1,43 lần vốn kinh doanh; hàng hóa tồn kho là 45.688 tỷ đồng, trong đó
hàng ứ đọng, mất phẩm chất không dùng đến là 1.600 tỷ đồng; doanh nghiệp
có 1 đồng vốn thì phải vay hoặc chiếm dụng 1,2 đồng cho kinh doanh, hệ số
vốn vay và vốn chiếm dụng so với vốn sở hữu là 1,8 lần; tổng số nợ phải trả là
353.410 tỷ đồng, bằng 2,3 lần vốn nhà nớc cấp, gấp 2 lần nợ phải thu trong đó
nợ quá hạn phải trả là 10.171 tỷ[ theo báo cáo tổng kiểm kê tài sản và xác
định lại tài sản DNNN tại thời điểm 0 h ngày 01-01-2000.]
Yêu cầu đổi mới DNNN còn phát sinh sự từ cạnh tranh với khu vực kinh tế t
nhân đang có những bớc chuyển mình mạnh mẻ. Mặt khác trong quá trình hội
nhập DNNN không chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp t nhân trong nớc mà
còn cả với các doanh nghiệp khác của nớc ngoài. Cạnh tranh trên thị trờng
không chấp nhận sự bảo hộ của Nhà nớc đối với các doanh nghiệp của mình mà
cạnh tranh bình đẳng đòi hỏi nhà nớc không chỉ xóa độc quyền mà cả bao cấp.
Nh vậy cổ phần hóa là một giải pháp tốt cho nền kinh tế nớc ta nói chung cũng
nh các DNNN nói riêng.
2. Thực tiễn cổ phần hóa DNNN.
DNNN có mặt ở hầu hết các nớc trên thế giới, kể cả những nớc t bản chủ nghĩa.
Sự tồn tại của DNNN ở các nớc t bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan . Khi
mà những cuộc khủng hoảng liên tục của chủ nghĩa t bản vào những năm đầu
của thế kỉ XIX đã chứng minh sự sụp đổ của học thuyết bàn tay vô hình . Sự can
thiệp của Nhà nớc vào hoạt động của nền kinh tế là rất cần thiết để duy trì sự
phát triển cân đối của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên sự phát triển của DNNN
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
ở nhiều nớc đều vấp phải tình trạng chung là hiệu quả thấp, tham nhũng, lãng
phí Vì thế cải cách DNNN là một điều tất yếu; Có nhiều cách thức để cải cách
DNNN nhng t nhân hóa là biện pháp đợc sử dụng rộng rãi nhất và đem lại nhiều
kết quả khả quan nhất. T nhân hóa đợc tiến hành mạnh mẻ ở các nớc có nền
kinh tế phát triển mạnh nh Hàn Quốc, Xingapo, Nam phi cũng nh các nớc
đang phát triển và các nớc phát triển và nó đang trở thành một xu thế mang tính
chất toàn cầu. Là một nớc xã hôi chủ nghĩa, có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
cũng gần giống với Việt Nam. Trung Quốc cũng tiến hành cải cách DNNN và
thực tiễn cải cách DNNN ở Trung Quốc đã để lại cho chúng ta nhiều kinh
nghiệm quý báu. Cải cách DNNN ở Trung quốc đợc thực hiện khá rộng rãi và
thành công, thực sự là một kinh nghiệm cho việc cải cách DNNN mà không cần
phải t nhân hóa hàng loạt. Cải cách DNNN bắt đầu từ năm 1984 và đã trải qua
bốn giai đoạn Cổ phân hóa DNNN trong giai đoạn này thực sự trở thành chiến
lợc của Trung Quốc trong việc hiện đại hóa và phát triển kinh tế và đã thể hiện
rõ rệt hiệu quả của khu vực kinh tế công cũng nh nâng cao hiệu quả hoạt động
của DNNN.
Phải nói rằng cụm từ cổ phần đã rất quen thuộc từ hơn nhiều năm nay,
kể từ khi Đảng ta lập hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng, lập cửa hàng xí
nghiệp công t hợp doanh và đã đợc phát triển rộng khắp. Trớc sức ép đẩy nhanh
việc cổ phần hóa một số địa phơng và DNNN đã tìm mọi cách để đạt đợc chỉ
tiêu kế hoạch. Nếu chọn đơn vị kém hấp dẫn để cổ phần hóa thì cổ phần hóa th-
ờng rất bế tắc vì xuất phát từ tâm lí chủ quan của mọi ngời là ai cũng muốn bảo
toàn lợi ích của mình, không ai muốn rủi ro vì thế không ai muốn bỏ vốn ra để
mua cổ phần. Bởi vậy để có thể suôn sẻ việc chọn đơn vị nào đang làm ăn đợc,
đang có triển vọng đợc coi là một giải pháp hữu hiệu dễ đợc cán bộ công nhân
viên và ngời ngoài doanh nghiệp chấp nhận việc mua cổ phần. Nếu chỉ là DNNN
thuần túy thì cơ chế tài chính rất ngặt nghèo, dù làm ăn có hiệu quả, lãi lớn thì
tiền lơng vẫn bị khống chế, không đợc tăng lên tơng ứng. Sự xuất hiện của công
ty cổ phần đã phần nào khắc phục đợc những hạn chế đó. Nhng qua thực tế thì
rõ ràng không phải cổ phần hóa là một phép màu làm cho các công ty cổ phần
bỗng nhiên phát đạt, bởi vì nếu không có sự hỗ trợ của các DNNN thì các
công tyđó mất rất nhiều hợp đồng kinh tế, mất việc làm và có thể dẫn đến sa sút
ngay. Điều này càng chứng tỏ cổ phần hóa làm sáng tỏ nhu cầu và nội dung đổi
mới DNNN, đó là phải đồng bộ cả về sắp xếp cải tiến hoạt động của doanh
nghiệp và cơ chế chính sách đối với nó để đảm bảo động lực phát triển, nhân tố
kích thích sự hăng hái sáng tạo, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Các công ty thành viên hoặc bộ phận trong DNNN sau khi cổ phần hóa về
nguyên tắc coi nh đã ra khỏi doanh nghiệp mẹ. Nhng xét về thực chất thì công ty
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
cổ phần mới vẫn gắn chặt với công ty mẹ và thông thờng không muốn rời bỏ
quan hệ mật thiết trong hệ thống của tổng công ty Nhà nớc. Bởi vậy cổ phần hóa
đã gợi mở mô hình tổng công ty đa sở hữu với thành phần kinh tế Nhà nớc giữ
vai trò chủ đạo, vai trò chủ đạo ở đây bắt nguồn từ khả năng chi phối bằng sức
mạnh kinh tế, từ lợi ích mà thành phần kinh tế chủ đạo dẫn dắt và mang lại cho
các thành phần kinh tế khác. Trong thực tế đã bắt đầu xuất hiện công ty đa sỡ
hữu kiểu này ở một vài DNNN có quy mô lớn nhng mô hình này cha đợc thể chế
hóa và nhân rộng. Khi mô hình này đợc phát triển thì sẻ ẩn chứa khả năng hình
thành các công ty đầu t hoặc kinh doanh tài sản của Nhà nớc, qua đó quyền sở
hữu tài sản của doanh nghiệp sẻ chuyển thành quyền sở hữu giá trị dới hình thức
phổ biến là cổ phiếu.
Trong nền kinh tế thị trờng các công ty cổ phần các, công ty TNHH, t nhân
đầu t mua chứng khoán của nhau, đan xen xâm nhập nhau tạo nên những hình
thái doanh nghiệp đa sở hữu, tách quyền sở hữu với quyền kinh doanh nhng lại
gắn kết các thành viên trong xã hội ở hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Có thể nói đây là xu hớng tích cực, ngày càng phổ biến làm cho các
thành viên trong nền kinh tế có thể hợp sức nhau lại tạo nên một động lực mới
cho tiến trình phát triển kinh tế của đất nớc.
III). Tiến trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam.
Cổ phần hóa là một phần quan trọng trong cải cách hệ thống doanh nghiệp Nhà
nớc của nhiều quốc gia trên thế giới kể từ đàu thập niên 80 của thế kỉ XX ở Việt
Nam, cổ phần hóa DNNN là một quá trình tìm tòi thử nghiệm và từng bớc tháo
gỡ khó khăn trong quá trình triển khai. Trong quá trình đó Đảng ta không ngừng
đổi mới t duy, từng bớc chỉ đạo đúng đắn cổ phần hóa góp phần sắp xếp, cũng
cố, phát triển và nâng cao hiệu quả của hệ thống DNNN trong nền kinh tế thị tr-
ờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian từ 1960 đến 1990 tức là trớc
thời điểm thực hiện cổ phần hóa, Đảng và Nhà nớc ta đã triển khai nhiều biện
pháp nhằm cải tiến quản lý xí nghiệp quốc doanh. Trong thời kì đổi mới ý tởng
về cổ phần hóa DNNN đã đợc hình thành khá sớm. Từ hội nghị Trung ơng
3( khóa VI) về đổi mới cơ chế quản lí đã nêu: Nếu không đủ điều kiện để cũng
cố và không cần thiết duy trì hình thức quốc doanh thì chuyển sang hình thức sở
hữu khác ( kể cả cho tập thể, t nhân thuê), hoặc giải thể, trớc hết là những xí
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng không thuộc loại thiết yếu, xí nghiệp dịch vụ
trang bị kĩ thuật thấp, bị thua lỗ thờng xuyên. Những biện pháp cải cách tơng
đối có giá trị đột phá đợc qui định trong quyết định số 21/HĐBT ngày 14-11-
1987 của hội đồng bộ trởng. Nếu tính về số lợng các văn bản đợc ban hành thì
vấn đề đổi mới DNNN chiếm vị trí hàng đầu trong hệ thống chính sách và pháp
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
luật ở nớc ta. Quyết định 21/HĐBT đã đề cập tới việc tiến hành thí điểm cổ phần
hóa DNNN và giao cho bộ tài chính chủ trì. Nhng do điều kiện thị trờng cha
phát triển, tồn tại quá lâu trong cơ chế củ nên từ Trung ơng đến cơ sở cha hiểu
hết vấn đề phức tạp này do đó cha thống nhất về quan điểm. ở giai đoạn này thì
cổ phần hóa là một vấn đề mới đối với thực tiễn quản lí DNNN ở nớc ta. Đầu
năm 1990 trên cơ sở đánh giá kết quả sau 5 năm đổi mới, Hội đồng bộ trởng đã
ban hành quyết định số 143/HĐBT ngày 10/5/1990 về chủ trơng nghiên cứu làm
thử xí nghiệp quốc doanh sang công ty cổ phần. Tuy vậy đến năm 1992 cả nớc
cha cổ phần hóa đợc doanh nghiệp nào. Một trong những nguyên nhân của tình
trạng này là quyết định 143/HĐBT của Hội đồng bộ trởng đặt ra quá nhiều mục
tiêu không rõ ràng dễ gây hiểu nhầm đối với các doanh nghiệp và ngời lao động.
Đến đại hội XII Đảng ta lại chủ trơng thực hiện quan điểm: khẩn trơng sắp xếp
lại và đổi mới quản lí kinh tế quốc dân. Cho thuê, chuyển hình thức sở hữu hoặc
giải thể các cơ sở thua lỗ kéo dài và không có khả năng vơn lên. Đại hội đã chỉ
rỏ: đối với những cơ sở không cần giữ hình thức quốc doanh, cần chuyển hình
thức kinh doanh, hình thức sở hữu hoặc giải thể, đồng thời giải quyết việc làm
và đời sống cho ngời lao động. Khuynh hớng coi nhẹ kinh tế quốc doanh, muốn
t nhân hóa tràn lan, cho rằng chuyển sang cơ chế thị trờng phải t hữu hóa tất cả
các t liệu sản xuất là sai lầm. Tuy nhiên nếu duy trì và phát triển kinh tế quốc
doanh một cách tràn lan, kéo dài cơ chế bao cấp cũng không đúng. Cổ phần
hóa DNNN có thể chia thành 4 giai đoạn chính:
1. Giai đoạn thứ nhất(1992-giữa năm 1998): Nhằm thể chế hóa Nghị
quyết Đại hội XII của Đảng, Hội đồng bộ trởng đã ra quyết định số 202/QĐ-
HĐBT chỉ đạo tiếp tục triển khai tiếp tục tiến hành cổ phần hóa DNNN bằng
việc chuyển thí điểm một số DNNN thành công ty cổ phần. Đây đợc coi là một
mốc trong tiến trình cổ phần hóa DNNN ở nớc ta, đánh dấu tiến trình cổ phần
hóa đang đợc xúc tiến và đang trong giai đoạn thí điểm. Để thực hiện Nghị
quyết này theo chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 của Thủ tớng Chính phủ đã
chọn 7 doanh nghiệp, đồng thời cũng giao cho các bộ, các tỉnh các thành phố
trực thuộc Trung ơng chọn 1 đến hai doanh nghiệp để tiến hành thí điểm cổ
phần hóa. Triển khai thực hiện theo tinh thần chỉ thị của Thủ tớng Chính phủ các
bộ ,nghành, địa phơng đã thông báo đến từng doanh nghiệp để các doanh nghiệp
tự nguyện tiến hành thí điểm chuyển doanh nghiệp mình thành công ty cổ phần.
Cuối năm 1993 đã có 30 doanh nghiệp đăng kí thực hiện thí điểm cổ phần hóa
nhng vì nhiều lí do mà cả 7 doanh nghiệp đã đơc Chính phủ chọn và nhiều
doanh nghiệp khác xin rút lui hoặc không tiếp tục làm thử. Điều này đã đặt
chúng ta trớc những khó khăn lớn và để giải quyết những khó khăn, vớng mắc
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
trong quá trình thí điểm cổ phần hóa Đảng ta đã chủ trơng: để thu hút thêm
các nguồn vốn, tạo động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy DNNN làm ăn có
hiệu quả cần thực hiện các hình thức cổ phần hóa có mức độ phù hợp với tính
chất và lĩnh vực sản xuất kinh doanh; Trong đó Nhà nớc chiếm tỷ lệ cổ phần chi
phối . Hội Nghị giữa nhiệm kì khóa XII Đảng ta đã đặt ra yêu cầu: áp dụng
từng bớc vững chắc việc bán một tỷ lệ cổ phần cho công nhân viên chức làn việc
tại doanh nghiệp; Thí điểm việc bán một phần cổ phần, cổ phiếu của một số
DNNN cho một số tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp; Trên cơ sở cổ phần
hóa tổ chức Hội đồng quản trị gồm đại diện cho sở hữu nhà nớc, sở hữu công
nhân và sở hữu và các chủ sở hữu khác Mặc dù có sự chỉ đạo sít sao của Đảng
với quan diểm rõ ràng nhng kết quả thu đợc không cao, tới tháng 4/1996 chỉ có
5 doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần trong đó 2 trong tổng số 61 tỉnh
thành và 3 trong số 7 bộ có doanh nghiệp cổ phần hóa. Cả 5 doanh nghiệp này
đều là những doanh nghiệp nhỏ, sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong những lĩnh
vực không quan trọng. Có thể nói giai đoạn thí điểm cổ phần hóa DNNN đã
khjông đạt đợc những kết quả nh mong đợi, tốc độ cổ phần hóa quá chậm và còn
quá nhiều những vớng mắc khó khăn cần đợc tháo gỡ và rút kinh nghiệm.
2. Giai đoạn 2( giữa năm 1996-giữa năm1998): Đây là giai đoạn vừa làm
vừa rút kinh nghiệm để tạo hành lang pháp lí cho các doanh nghiệp khi cổ phần
hóa, hay nói cách khác đây là giai đoạn mở rộng cổ phần hóa. Với kinh nghiệm
sau 4 năm tiến hành thí điểm cổ phần hóa và trớc nhu cầu về vốn của các
DNNN, ngày 7/5/1996 Chính phủ đã chủ trơng mở rộng cổ phần hóa bằng Nghị
định 28/CP với những qui định rõ ràng, đầy đủ và cụ thể hơn về việc chuyển một
số DNNN thành công ty cổ phần. Sau hơn 2 năm thực hiện tính đến tháng
6/1998 cả nớc đã tiến hành cổ phần hóa đợc 25 DNNN. Việc triển khai thực
hiện Nghị định 25/CP vẫn còn khá nhiều vớng mắc bất cập nh phơng pháp xác
định giá trị doanh nghiệp, chế độ u đãi cho doanh nghiệp và ngời lao động sau
cổ phần hóa , đây chính là những rào cản bớc đàu làm chậm tiến trình cổ phần
hóa, tuy nhiên nếu nhìn nhận một cách khách quan thì cổ phần hóa trong giai
đoạn này cũng đã đạt đợc những kết quả khả quan.
3. Giai đoạn 3(1998-2001): Trên cơ sở những kết quả bớc đầu của giai
đoạn mở rộng cổ phần hóa, Đảng ta đã chủ trơng chủ trơng đẩy mạnh tốc độ cổ
phần hóa DNNN. Hội nghị Trung ơng 4 khóa XIII đã yêu cầu: Đối với các
doanh nghiệp mà Nhà nớc không cần nắm giữ 100% vốn, cần lập kế hoạch cổ
phần hóa tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, làm ăn có hiệu quả phát
huy tốt nguồn lực hiện có. Tiến hành thí điểm bán cổ phần cho ngời nớc ngoài,
khuyến khích nông dân tham gia sản xuất nguyên liệu cung ứng cho các nhà
máy, xí nghiệp , tham gia mua cổ phần ở các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
nghiệp chế biến nông sản Từ thực tiễn kinh nghiệm ngày 4/4/1997 Bộ Chính
trị ra thông báo số 63TB/TW ý kiến của Bộ Chính trị về tiếp tục triển khai tích
cực và vững chắc cổ phần hóa DNNN. Nhằm thực hiện quan điểm của Đảng
ngày 29/6/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP thay thế
cho các văn bản về cổ phần hóa trớc đó, cùng với chỉ thị 20/CT-TTg ngày
21/4/1998 của Thủ tớng Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới DNNN.
Nghị định này là một bớc tiến lớn trong việc đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa, hạn
chế bớt đợc những bất cập trong các văn bản chỉ đạo thực hiện trớc đó. Nghị
định này đã bớc đầu cho những kết quả khả quan, đến 6 tháng cuối năm 1998 đã
có 90 DNNN đợc cổ phần hóa gấp hơn 3 lần kết quả của những năm trớc đó, đặc
biệt năm 1999 cả nớc cổ phần hóa đợc hơn 240 doanh nghiệp. Đạt đợc những
thành công này một phần là nhờ ở sự chỉ đạo, giám sát, đôn đốc của các cơ
quan, ban , nghành từ Trung ơng đến cơ sở. Trong vòng hai năm các cơ quan
Nhà nớc đã ban hành 15 văn bản hớng dẫn tháo gỡ những vớng mắc khó khăn
trong cổ phần hóa. Nhng đến năm 2000 cả nớc chỉ cổ phần hóa đợc 155 doanh
nghiệp và bộ phận doanh nghiệp đạt 26% kế hoạch. Sự chững lại của cổ phần
hóa có nhiều nguyên nhân nhng một trong số các nguyên nhân chính vẫn là
những bất cập về chính sách và cơ chế pháp lí. Trớc tình hình đó Hội nghị Trung
ơng 3 khóa IX về sắp xếp đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nớc
đã xác định: phải kiên quyết điều chỉnh cơ cấu để doanh nghiệp có cơ cấu hợp lí
và theo đó thì cổ phần hóa DNNN đợc xác định là khâu tạo ra những chuyển
biến quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả DNNN.
4. Giai đoạn 4( giai đoạn mới): Theo tinh thần Nghị quyết Trung ơng
khóa IX Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CP nhằm thay thế
Nghị đinh 44/1998/NĐ-CP, đồng thời ra quyết định số 50/2002/QĐ-CP về ban
hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN và một số văn bản chỉ đạo thực hiện
khác nhằm từng bớc tháo gỡ những vớng mắc của các văn bản trớc đó, tạo điều
kiện thuận lợi cho tiến trình cổ phần hóa. Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các bộ,
các tỉnh, các tổng công ty rà soát, sắp xếp lại các doanh nghiệp, xây dựng đề án
đổi mới nâng cao hiệu quả của DNNN trong một số ngành, lĩnh vực then chốt
của nền kinh tế quốc dân. Bằng các hình thức sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá
sản, giao bán, khoán, cho thuê và cổ phần hóa. Từ 2001-2003 cổ phần hóa đợc
979 doanh nghiệp, riêng 2003 là 611 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp đ-
ợc cổ phần hóa. Các doanh nghiệp cổ phần hóa chỉ chiếm 6% tổng số vốn của
DNNN, với tốc độ, số lợng và mức độ cổ phần hóa nh vậy thì cổ phần hóa cha
thực sự tạo đợc những chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN
nh Nghị quyết Trung ơng 3 khóa IX đã đề ra. Bớc sang năm 2004 Hội nghị
Trung ơng 9 khóa IX đã đề ra những điểm rất mới và rất quan trọng trong chủ tr-
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
ơng đổi mới sắp xếp lại DNNN: kiên quyết đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và
mở rộng diện các DNNN cần cổ phần hóa kể cả những doanh nghiệp lớn và một
số tổng công ty làm ăn có hiệu quả, gắn với việc phát hành cổ phiếu và tham gia
niêm yết trên thị trờng chứng khoán giá trị DNNN đợc cổ phần hóa, trong đó có
giá trị quyền sử dụng đất, về nguyên tắc phải do thị trờng quyết định. Việc mua
bán cổ phiếu phải công khai trên thị trờng, khắc phục tình trạng cổ phần hóa
khép kín trong nội bộ doanh nghiệp.
Cho đến nay tuy còn nhiều khó khăn nhng kết quả cổ phần hóa đã phần nào
phản ánh đợc những thành công nhất định.
Nguồn: từ ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp
Số doanh nghiệp đợc cổ phần hóa trong 2 năm 2002 và 2003 tơng đơng với giai
đoạn 1998-2001. tuy nhiên kêt quả còn nhiều hạn chế, số doanh nghiệp đợc cổ
phần hóa không đạt mục tiêu đề ra, riêng 6 tháng đầu năm 2004 chỉ đạt đợc 16%
kế hoạch ( chỉ tiêu đề ra trong năm nay là cổ phần hóa đợc 1770 đơn vị).
IV). Đánh giá chung về quá trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam.
Cổ phần hóa DNNN là một chủ trơng lớn của Đảng. Mấy năm trớc diễn biến
khá chậm chạp. Đến hội Nghị lần thứ 9 Hội nghị Trung ơng khóa IX Đảng ta đã
chủ trơng đẩy nhanh tiến độ, và đẩy mạnh hơn nữa công việc đó. Thực tiễn cổ
phần hóa đang bắt đầu diễn ra sôi động, quá trình diễn ra không đơn giản vừa có
những thuận lợi vừa có những khó khăn phức tạp, tuy nhiên sau hơn 10 năm
thực hiện chủ trơng đổi mới doanh nghiệp thì cổ phần hóa DNNN đã có đợc
những thành công và những hạn chế nhất định.
1.Những thành tựu.
1.1. Những thành tựu mang tính định l ợng .
Chủ trơng cổ phần hóa DNNN đã đợc thực hiện ở nớc ta hơn 10 năm qua.
Cho đến nay thì cả nớc đã cổ phần hóa đợc 1790 DNNN. Trong 10 tháng của
năm 2003 thì trong số 766 DNNN thực hiện việc chuyển đổi thì có 425 doanh
nghiệp cổ phần hóa (nguồn t ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp). Từ thực
tiễn có thể thấy cổ phần hóa là hình thức chuyển đổi sở hữu chiếm u thế trong
quá trình đổi mới sắp xếp lại DNNN.
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Giai on S DN c phn
hoỏ
Thớ im (1992 gia 1996) 5
M rng thớ im theo Ngh nh 28/CP (gia 1996 - gia 1998) 25
y mnh c phn hoỏ theo Ngh nh 44/1998/N-CP (1998-2001) 745
Tip tc y mnh c phn hoỏ theo Ngh nh 64/2002/N-CP 2002 164
2003 611
Tng 1550
Đề án môn học
Từ năm 1992 đến tháng 6 năm 1998 cả nớc đã cổ phần hóa đợc 30 DNNN.
Trong đó có 5 doanh nghiệp đợc cổ phần hóa theo cơ chế, chính sách thí điểm
qui đinh tại quyết định 202/CT của Hội đồng bộ trởng, 25 doanh nghiệp đợc cổ
phần hóa theo tinh thần Nghị định 28/CP của Chính phủ. Các doanh nghiệp đợc
cổ phần hóa trong thời gian này nhìn chung đều có những tiến bộ về năng suất,
chất lợng và hiệu quả. Cổ phần hóa đã thu hút đợc một nguồn vốn khá lớn trong
xã hội tạo đợc động lực tốt cho doanh nghiệp phát triển, phát huy tích cực tính
chủ động sáng tạo của ngời lao động. Từ đó góp phần làm tăng ngân sách Chính
phủ, giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động đồng thời khắc phục bớt đợc
những tiêu cực trong các doanh nghiệp.
Từ 2/6/1998 đến 31/12/1999 đã có thêm 340 DNNN và bộ phận DNNN đợc
chuyển thành công ty cổ phần. Riêng trong năm 1999 đã có 250 doanh nghiệp
đợc cổ phần. Nhìn chung sau khi Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ra đời cổ phần
hóa DNNN đã đạt đợc những tiến bộ đáng kể. Nghị định số 44/1998/NĐ-CP đã
quy định các chính sách khuyến khích đối với doanh nghiệp và ngời lao động
trong doanh nghiệp cổ phần hóa một cách rõ ràng và cụ thể hơn; Có sự quan tâm
hơn đến ngời lao động đặc biệt là ngời lao động nghèo. Chính đây là nguyên
nhân khiến chủ trơng cổ phần hóa trở nên hấp dẫn hơn đối với doanh nghiệp
cũng nh ngời lao động.
Từ tháng 1/2000 đến cuối tháng 11/2002 cả nớc đã cổ phân hóa đợc 523 doanh
nghiệp, đa tổng số doanh nghiệp đợc cổ phần hóa lên 907 doanh nghiệp. Năm
2002 đã có 427 DNNN đợc sắp xếp lại trong đó 164 doanh nghiệp đợc cổ phần
hóa. Năm 2003 có 766 doanh nghiệp đợc sắp xếp lại bằng 48% so với kế hoạch,
trong đó có 425 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp đợc cổ phần hóa. Và
cho đến nay thì đã có 1.790 doanh nghiệp Nhà nớc đợc cổ phần hóa. Nh vậy
càng về sau thì tốc độ cổ phần hóa càng đợc đẩy mạnh và càng về sau thì quy
mô các doanh nghiệp Nhà nớc đợc cổ phần hóa hoặc chuyển đổi dới hình thức
khác càng lớn. Trớc kia cả nớc có khoảng 12.000 DNNN phần lớn các DNNN
có quy mô vốn rất nhỏ và chiếm lĩnh hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc
dân. hơn 10 năm qua chúng ta đã sắp xếp điều chỉnh còn lại khoảng 5.000 doanh
nghiệp, tuy hiệu quả cha cao, cha tơng xứng với vị trí tiềm năng của nó nhng các
doanh nghiệp Nhà nớc đã có những đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc dân:
63,8%GDP, 63% ngân sách, 72% kim ngạch xuất khẩu, trong khi 120.000
doanh nghiệp ngoài quốc doanh kể cả doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài chỉ
đóng góp 20%GDP, 15% nguồn thu ngân sách, 12,5% kim ngạch xuất khẩu.
Trong điều kiện đó thì cổ phần hóa DNNN là một giải pháp tốt để phát huy hiệu
quả khu vực kinh tế quốc doanh, thể hiện là một khu vực kinh tế năng động, d-
ờng cột của nền kinh tế. Qua khảo sát 500 doanh nghiệp đã cổ phần hóa trên 1
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
năm cho thấy : vốn điều lệ tăng 50%, doanh thu tăng 60%, lợi nhuận trớc thuế
tăng 13,7%, nộp ngân sách tăng 45%, thu nhập của ngời lao động tăng 63%, cổ
tức trung bình là 15,5%, số lao đôngb tăng 23%. Trớc năm 2003 số DNNN đợc
cổ phần hóa có vốn trên 10 tỷ chỉ chiếm 7,9% thì năm 2003 là 15%. Đây chính
là những con số báo hiệu những chuyển biến tích cực của tiến trình cổ phân hóa
DNNN.
1.2. Thành tựu của cổ phần hóa DNNN đối với hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp cổ phần hóa và tác động của nó tới việc giải
quyết công ăn việc làm cho ng ời lao động.
Bênh cạnh những kết quả về mặt số lợng đã đợc đề cập ở trên việc thực hiện chủ
trơng cổ phần hóa DNNN còn đem lại những hiệu quả quan trọng về mặt kinh tế
xã hội.
1.2.1. Về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau khi tiến
hành cổ phần hóa.
Xét một cách tổng thể thì phần lớn các DNNN sau khi chuyển thành công
ty cổ phần đều hoạt động có hiệu quả hơn trớc. Qua báo cáo của các doanh
nghiệp cổ phần hóa sau khi hoạt động đợc một năm thì doanh thu bình quân của
các doanh nghiệp tăng gần gấp hai lần so với trớc khi tiến hành cổ phần hóa kể
cả những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Điển hình nh công ty GEMADEPT khi
bớc vào cổ phần hóa vốn Nhà nớc chỉ có 1,2 tỷ đồng đợc đánh giá lên thành 6 tỷ
đồng, sau bảy năm hoạt động theo mô hình mới tổng số vốn đã lên tới 140 tỷ
đồng; Hay nh công ty bông Bạch Tuyết năm 1999 đạt 86 tỷ đồng, gấp 1,5 lần so
với số doanh thu trớc khi thực hiện cổ phần hóa là 55 tỷ đồng năm 1998. Lợi
nhuận của doanh nghiệp tăng bình quân hơn hai lần, cổ tức bình quân đạt từ 1-
2% một tháng. Vốn của doanh nghiệp tăng gần 2,5 lần so với trớc khi tiến hành
cổ phần hóa. Chính nhờ hoạt động có hiệu quả các DNNN thực hiện cổ phân
hóa chính là những công ty cổ phần đầu tiên niêm yết trên thị trờng chứng
khoán ở Việt Nam. điều này làm tăng uy tín cũng nh vị thế của các DNNN đợc
cổ phần hóa trên thơng trờng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để cho các doanh
nghiệp này có đợc một chổ đứng tốt trong nền kinh tế Việt Nam đang trong đà
hội nhập và phát triển.
1.2.2. Về huy động vốn .
Việc thực hiện chủ trơng cổ phần hóa DNNN đã tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp thu hút đợc một nguồn vốn lớn trong xã hội để đầu t phát triển sản
xuất kinh doanh. Chỉ tính riêng 370 DNNN đợc cổ phần hóa tính đến ngày
31/12/1999 thì tại thời điểm cổ phần hóa giá trị phần vốn Nhà nớc của các
doanh nghiệp này là 1.349 tỷ đồng qua cổ phần hóa đã thu hút thêm đợc 1.432
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét