Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế thị trường ở việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế thị trường ở việt nam": http://123doc.vn/document/1055305-huy-dong-cac-nguon-von-trong-nen-kinh-te-thi-truong-o-viet-nam.htm


Vốn cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng đối vơi các nước đang phát
triển nói chung, và Việt Nam nói riêng để các nước này có thể tiến hành
đổi mới nền kinh tế, đưa nền kinh tế tiến kịp với các nước phát triển
.Việt Nam là một nước tiến hành CNH – HĐH muộn so với thế giới, mặt
khác lại có xuất phát điểm thấp, đó là những khó khăn cản trở sự phát
triển kinh tế .Để khắc phục những khó khăn này thì vốn đóng vai trò rất
quan trọng .Nước ta cần phải có một lượng vốn lớn để xây dựng và nâng
cấp cơ sở hạ tầng, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đôi
rmới thiết bị công nghệ cho quá trình sản xuất .Nền kinh tế không thể phát
triển được nếu thiếu một cơ sở hạ tầng thuận lợi, đồng bộ .Cơ sở hạ tầng
của nước ta hiện nay tuy đã có những tiến bộ song vẫn đang ở mức thấp
kém .Đó là một yếu tố làm giảm tính hấp dẫn của các nhà đầu tư nước
ngoài .Nguồn nhân lực nước ta có rất nhiều lợi thế song tay nghề lại
thấp .Máy móc thiết bị sử dụng trong quá trình sản xuất phần lớn là lạc hậu
so với các nước phát triển Tất cả những điều đó đòi hỏi Nhà Nước phải
có các giảI pháp thích hợp để huy động được một lượng vốn đủ lớn để,
thực hiện việc “đi trước đón đầu “.
3 .Phân loại nguồn vốn
Có một số cách đẻ phân loại nguồn vốn dựa vào tính chất của chúng cũng
như nội dung, mục đích nghiên cứu .Xét về mặt định lượng, có ba
nguồn vốn chủ yếu có thể huy động cho đầu tư phát triển là :
3.1Nguồn vốn Nhà Nước
Nguồn này bao gồm :
• Ngân sách Nhà Nước
• Vốn trong các doanh nghiệp Nhà Nước
• Vốn tài sản công, tài sản quốc gia
5
3.2Nguồn vốn trong dân cư
3.3Nguồn vốn nước ngoài :gồm bốn bộ phận cấu thành chủ yếu là:
• Nguồn ODA
• Nguồn vay thương mại
• Nguồn kiều hối
• Nguồn vốn FDI
Dưới đây, ta sẽ đi vào xem xét về đặc điểm, khả năng khai thác và
các yếu tố ảnh hưởng của từng nguồn vốn cụ thể
II Các nguồn vốn từ trong nước
1. Nguồn vốn Nhà nước
Nguồn này bao gồm :
1.1 Ngân sách Nhà nước
*) Về hình thức NSNN là một bảng tổng hợp các khoản thu và các
khoản chi của Nhà nước trong một năm tài chính theo dự toán ngân sách đã
duyệt ( thông thường một năm tài chính được tính từ 1/1-31/12 )
*)Về bản chất kinh tế thì NSNN thể hiện các quan hệ kinh tế giữa Nhà
nước với các doanh nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp, các tầng
lớp dân cư, các tổ chức trung gian tài chính, thị trường tài chính .
Vai trò của NSNN: Huy động nguồn tài chính, đảm bảo nhu cầu chi
tiêu của Nhà nước .Nó thông qua các nguồn thu từ thuế, lệ phí, vay
nợ, viện trợ để hình thành nên quỹ NSNN và từ quỹ này Nhà nước dùng
để chi tiêu, để thực hiện các chức năng của mình .Để thực hiện tốt các
vai trò naỳ thì yêu cầu đặt ra đối với thu NSNN là :
6
- Thứ nhất :mức động viên các nguồn tài chính từ các đơn vị cơ sở
để hình thành nguồn thu của NSNN phải phù hợp .
- Thứ hai: các công cụ được sử dụng tạo nguồn thu cho NSNN và
thực hiện các khoản chi NSNN phải phù hợp
- Thứ ba: tỉ lệ động viên của NSNN trên tổng sản phẩm quốc dân
phải hợp lý .NSNN còn có vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã
hội .Nó được thể hiện trong ba nội dung cơ bản sau
- Thứ nhất: kích thích sự tăng trưởng kinh tế .Nhà nước sẽ sử dụng
thuế và chi đầu tư để hướng dẫn, kích thích và tạo sức ép đối với các chủ
thể của các hoạt động kinh tế .Vận dụng một thuế suất hợp lý sẽ có tác
dụng hướng dẫn, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng hoạt
động kinh doanh tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, thu hút vốn
đầu tư và định hướng đầu tư của khu vực doanh nghiệp .
- Thứ hai: điều tiết thi trường giá cả, chống lạm phát .Nhà nước
sẽ sử dụng các chính sách Ngân sách để can thiệp vào thị trương thông qua
các khoản chi của NSNN dưới hình thức tài trợ vốn, trợ gía và sử dụng
các quỹ dự trứ Nhà nước về hàng hoá và dự trữ tài chính .
- Thứ ba :điều tiết thu nhập để thực hiện công bằng xã hội, Để
thực hiện vai trò này, NSNN sẽ áp dụng một mức thuế thu nhập hợp lý
để đánh vào những người có thu nhập cao, lamf giảm bớt chênh lệch,
rút ngắn khoảng cách giữa người giàu và người nghèo trong xã hội .
NSNN được hình thành trên tất cả các khoản thu mà có .Để quản lý
các nguồn thu tốt người ta phải tiến hành phân loại các nguồn thu .
- Nếu dựa vào nguồn hình thành thì phân thành :
• Nguồn thu trong nước
7
• Nguồn thu ngoài nước
- Nếu dựa vào hình thức thu thì phân thành :
• Thu trong cân đối (thu tích cực ): đây là các khoản thu từ thuế,
lợi tức cổ phần của Nhà nước, từ việc Nhà nước kinh doanh, từ bán tài sản
của Nhà nước,
• Thu để bù đắp thiếu hụt (thu để cân đối ): đây là khoản thu từ
nợ, viện trợ, phát hành giấy bạc .
Chi NSNN có thể đựoc chia làm 5 loại chi chính
- Chi cho đầu tư phát triển kinh tế
- Chi cho văn hoá xã hội
- Chi cho quốc phòng
- Chi để quản lý hành chính Nhà nước
- Chi cho việc dự trữ và trả nợ
Khi chính phủ chi tiêu nhiều hơn thu sé phát sinh thâm hụt NSNN
.Thâm hụt NS không nhất thiết là một điều xấu .Thực tế nhiều kinh tế gia
khuyến khích chính phủ can thiệp mỗi khi nền kinh tế suy sụp vì chính phủ
mua hàng hoá và dịch vụ thì nạn thất nghiệp sẽ không trầm trọng như khi
chính phủ không làm gì cả .
Ngược với thâm hụt NS là thặng dư NS .Có quan điểm cho rằng:
trong thời kỳ kinh tế tốt lành, chính phủ phải kiêm chế chi tiêu, không
phải chi vì nền kinh tế có thể tự phát triển mà còn do chi tiêu dư thừa của
chính phủ sẽ có thể gây lạm phát .
Do thuế là một nguồn thu chủ yếu của NSNN ( chiếm hơn 90 % )cho
nên việc huy động vốn NSNN phu thuộc rất nhiều vào chính sách thuế .Cải
8
cách thuế có tác động trực tiếp tới NSNN, việc miễn giảm thuế cần đi
đôi với việc mở rộng phạm vi và đối tượng nột thuế nhằm bào đảm quy mô
của NSNN .Nói chung, có rất nhiều nhân tố làm ảnh hưởng tơí NSNN,
nó bao gồm tất cả những hoạt động mà từ đó Nhà nước có thể thu được các
khoản thuế, lệ phí, hay tất cả các khoản thu bằng tiền khác
1.2 Vốn trong các DNNN và vốn tài sản công, tài sản quốc gia .
Đây là nguồn lực vật chất to lớn nhất của Nhà nước, nguồn vốn này
do các doanh nghiệp Nhà nứoc quản lý .Ngoài ra nguồn tài sản công ở dạng
tiềm năng là tài sản Nhà nứoc do các cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn
vị lực lượng vũ trang, cơ quan Đảng, đoàn thể quản lý
Những tài nguyên quốc gia ở trên, dưới mặt đất, mặt nước là
không thể ước tính đựoc hết do được khảo sát tường tận và chưa có đinhj
giá trị chính xác, đầy đủ .
Để huy động được nguồn vốn này thì đòi hỏi phải có sự quản lý hiệu
quả ở các doanh nghiệp Nhà nước .Tiếp tục thực hiện việc sắp xếp lại các
DNNN .Quản lý tốt các tài sản công, tài sản quốc gia .Mặt khác cần đâỷ
nhanh công tác thăm dò tìm kiếm và khai thác các tài nguyên thiên nhiên
sẵn có. Nguồn vốn này chịu ảnh hưởng chủ yếu từ sự quản lý của Nhà
nước, của bộ máy cán bộ Nhà nước có liên quan, có thẩm quyền quyết
định
2 .Nguồn vốn trong dân cư
Đây là nguồn vốn tích kiệm trong các hộ gia đình dưới dạn tiền hoặc
các tài sản có giá :vàng, bạc, đá quý .đồ cổ chưa được huy động vào
quá trình sản xuất .
Theo điều tra và ước tính của bộ Kế hoạch đầu tư và Tổng cục thống
kê, nguồn vốn trong dân hiện có từ 6-8 tỷ $ trong đó
9
- 44% của dân là để dành mua vàng ngoại tệ
- 20% là mua nhà đất, cải thiện điều kiện sinh hoạt
- 17% là gửi tích kiệm chủ yếu là ngắn hạn
- 19% là được dùng trực tiếp cho các dự án đầu tư .chủ yếu là ngắn
hạn .
Như vậy chỉ có khoảng 36 % vốn hiện có trong dân là được huy động
cho đâu tư phát triển .Vốn trong dân cư hiện vẫn là nguồn vốn có tiềm năng
vốn và khả năng khai thác cao .
Khi thu nhập quốc dân trên đầu người tăng lên thì lượng vốn trong dân
cũng tăng theo. Như vậy, cùng với sự tăng lên của thu nhập quốc dân thì
nguồn vốn trong dân cư cũng ngày một lớn .Trong tương lai đây cũng là
nguồn vốn quan trọng để phát triển kinh tế .
Nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động nguồn vốn này chủ yếu là
các chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân phù hợp từ phía Nhà nước;
lòng tin của người dân đối với Nhà nước; các chính sách vĩ mô của Nhà
nước; đồng thời phải có sự hiểu biết của người dân đối với công việc kinh
doanh, làm kinh tế…
3 .Nguồn vốn sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn .
Đây thực chất cũng là một nguồn vốn mà chúng ta cần phải chú ý .sử
dụng có hiệu quả các nguồn vốn sẽ đem lại các mối lợi như :tích kiệm chi
phí ;làm tăng tốc độ quay vòng vốn ;tạo ra niềm tin và sự hào hứng cho
các nhà đầu tư từ đó sẽ có khả năng tiếp tục huy động được các luồng vốn
lớn Ngoài ra nó còn đem lại nhiều lợi ích về mặt xã hội khác mà không
thể tính được hết .Huy động vốn là một việc cần thiết và cấp bách, song
10
sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn vốn lại là một vấn đề quan trọng
nhất đối với mọi quôc gia .Nó là một vấn đề hết sức khó khăn đòi hỏi phải
có sự quản lý thống nhất của Nhà nước, các cấp, các ngành và cả tinh
thần trách nhiệm của mỗi người lao động .Nó đòi hỏi phải có đầy đủ các
chuyên gia am hiểu những vấn đề về kinh tế, xây dựng, đầu tư
Trong điều kiện hiện nay sử dụng hiệu quả các nguồn vốn là một
nguồn vốn quan trọng .Nó vừa làm tăng lượng vốn do những lợi ích nó
đem lại, vừa tạo uy tín để thu hút các nguòn vốn khác.
Việc huy động có hiệu quả nguồn vốn này là rất khó khăn. Nó là kết
quả của việc quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh
tế. Như vậy việc quản lý vốn nói riêng và quản lý kinh tế nói chung là
nhân tố quan trọng nhất tác động tới việc huy động nguồn vốn này. Nguồn
vốn này có được huy động hay không là phụ thuộc rất lớn vào yếu tố khoa
học kết hợp với yếu tố nghệ thuật trong công việc quản lý.
III. Các nguồn vốn từ nước ngoài
Nguồn vốn từ nước ngoài đưa vào các nước đang phát triển được thực
hiện qua nhiều hình thức
1. Nguồn tài trợ phát triển chính thức (ODF).
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế, chính phủ (hoặc các
cơ quan đại diện chính phủ )cung cấp .Các tổ chức quốc tế như :chương
trình phát triển liên hợp quốc (UNDP)Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nhóm
ngân hàng thế giới (WB) -bao gồm các ngân hàng tái thiết và phát triển
kinh tế ( IBRD), Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA), ngân hàng phát
triển Châu Phi (AFDB), Quỹ xuất khẩu dầu lửa của khối OPEC, các quỹ
và hiệp hội phát triển khác nhau như :quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế
11
(IFAD), uỷ ban hỗ trợ phát triển (DAC) cùng các chính phủ là các đối
tượng cung cấp chủ yếu .
Đặc điểm của các loại vốn này là mức ưu đãi về lãi suất, thời hạn vay dài,
khối lượng vốn vay tương đối lớn .
Nguồn ODF bao gồm: viện trợ phát triển chính thức (ODA) và các hình
thức ODF khác nhau .ODA chiếm tỉ trọng chủ yếu trong nguồn ODF .
Nguồn ODA –Với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triẻn nó mang
tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn tài trợ nào khác .Thông thường trong
ODA có một phần là viện trợ không hoàn lại .Phần này khoảng dưới
25%tổng số .Yếu tố cho không được xác định dựa vào việc so sánh mức lãi
suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại .
Mục tiêu tổng quát của ODF là hỗ trợ các nước nghèo thực hiện những
chương trình phát triển và tăng phúc lơị của mình. Tuy nhiên, tính ưu đãi
dành cho loại vốn này thường đi kèm các điều kiện ràng buộc tương đối
khắt khe(tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thanh
toán ). Đôi khi ODA nhất là các khoản do chính phủ cung cấp thường đi
kèm các ràng buộc nào đó về chính trị, xã hội, quân sự với những điều
kiện đó, không phải nước nào cũng có thể nhận được viện trợ hoặc sử
dụng có hiệu quả cao trong hoàn cảnh riêng của mình. Vốn để là chỗ trong
một số trường hợp, các điều kiện, về thực chất là yêu sách của các nước
cung cấp viện trợ mà các nhận viện trợ không thể đáp ứng Chẳng hạn như
các vấn đề về nhân quyền, về định hướng xã hội hoặc thoả mãn các lợi
ích cục bộ về kinh tế và an ninh của nước cung cấp viện trợ .Ngay cả về
mặt kinh tế, nhiều dự án tài trợ do đi tìm một số ràng buộc như phải mua
hàng hoá, thiết bị công nghệ kỹ thuật hay thuê chuyên gia từ chính nơi
cung cấp viện trợ, có giá trị thực tế lớn hơn nhiều so với gía trị thưcj tế
12
trong hiệp định và được thực hiện mà không kèm theo những ràng buộc
đó .
Nhận xét về tình hình này, một số chuyên gia kinh tế học phát triển
của trường đại học Havert (Mỹ )viết “ bên cấp viện trợ và các nguồn vốn
chính thức khác thường cố gắng lợi dụng sự tương hợp của mình như một
đòn bẩy để đạt được các mục tiêu chính sách riêng .Họ gắn quỹ viện trợ với
việc mua hàng hoá và dịch vụ ở nước họ như một biện pháp nhằm tăng
cường khả năng làm chủ thị trường xuất khẩu và giảm bớt tác động của
viện trợ đối với cán cân thanh toán các nước cấp viện trợ cả đa phương
và song phương đều sử dụng viện trợ làm công cụ buộc các nước đang
phát triển phải thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của
bên cấp viện trợ ‘
Như vậy để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất,
cần phải xem xét dự án tài trợ trong điều kiện tài chính tổng thể .Nếu
không, việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài
trong nền kinh tế .Điều đó còn hàm ý rằng ngoài những yếu tố thuộc nội
dung dự án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có nghệ thuật
thoả thuận vừa có thể chấp nhận được vốn, vừa bảo tồn được các mục
tiêu có tính nguyên tắc của mình .
Nguồn vốn ODA chiêm sphần chủ yếu trong ODF và ODA là một nguồn
vốn rất quan trọng để phát triển kinh tế .Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh
vực của từng nước tài trợ có khác nhau, song nhìn chung các nhà tài trợ
cũng đều quan tâm tới giáo dục, y tế, vận tải, , viễn thông, hỗ
trợ chương trình các nhà tài trợ cũng không quên dành một phần đáng kể
trong ODA để xoá nợ .ODA là nguồn vốn chỉ dành riêng cho các nước
đang phát triển, vì mục tiêu phát triển .
13
Với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển, ODA mang tính ưu đãi
cao hơn bất cứ hình thức tài trợ nào khác .Tuy nhiên mỗi nước cung cấp
viện trợ đều có chính sách riêng của mình, tập chung vào một số lĩnh vực
mà họ quan tâm hay có khả năng (về công nghệ, kinh nghiệm quản
lý )Đồng thời mục tiêu ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể
cung cấp theo từng giai đoạn cụ thể .Vì vậy nắm được hướng ưu tiên và
tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA cũng có thể thay đổi
trong từng giai đoạn cụ thể .Vì vậy nắm được các hướng ưu tiên và tiềm
năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là một điều rất cần thiết .
Kể từ khi gia đời đến nay viện trợ luôn chữa đựng hai mục tiêu cùng tồn
tại song song
Thứ nhất :thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo đói ở những
nước đang phát triển
Thứ hai :tăngcường lợi ích chính trị của các nước tài trợ .Các nước phát
triển sử dụng ODA như một công cụ chính trị, xác định vị trí và ảnh
hưởng của mình tại các nước và khu vực tiếp nhận ODA
Đánh giá bản chất ODA phải ghi nhớ rằng đó là nguồn vốn có khả
năng gây nợ .Khi tiếp nhận và sử dụng vốn ODA, do tính chất ưu đãi nên
gánh nặng nợ nần thường không thấy ngay .Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn
ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất
khẩu, trong việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ .Do đó khi
hoạch định chính sách phải phối hợp các loại nguồn vốn để tăng cường sức
mạnh kinh tế và khả năng sản xuất .
Nguồn vốn ODA đối với nước ta hiện nay vẫn có một sức hấp dẫn
thậm chí còn hơn cả FDI .Tuy nhiên tài trợ phát triển chính thức là thị
trường vốn đặc biệt căng thẳng về nguồn cung và mang tính cạnh tranh
cao .Để có thể tiếp tục nhận được khối lượng ODA mong muốn, có
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét