Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

giải pháp huy động và sản xuất vốn tín dụng ngân hàng phát triển kinh tế hộ sản xuất ở huyện thanh trì


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp huy động và sản xuất vốn tín dụng ngân hàng phát triển kinh tế hộ sản xuất ở huyện thanh trì": http://123doc.vn/document/1053759-giai-phap-huy-dong-va-san-xuat-von-tin-dung-ngan-hang-phat-trien-kinh-te-ho-san-xuat-o-huyen-thanh-tri.htm


góp phần làm tăng của cải vật chất cho mọi quốc gia. Đặc biệt ở Việt Nam có 80%
dân số sống ở mức thấp mặc dù từ khi đất nớc chuyển sang nền kinh tế hàng hoá
với chủ trơng mở cửa nền kinh tế của Đảng và nhà nớc, trong những năm qua số
lợng các công ty liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài đã tăng lên nhanh
chóng, nhng yêu cầu đối với lao động nông thôn của các doanh nghiệp này đòi hỏi
rất cao, do đó rất ít lao động của các doanh nghiệp này đòi hỏi rất cao, do đó rất ít
lao động nông thôn có cơ hội làm việc trong các doanh nghiệp này. Hiện nay, ở n-
ớc ta có khoảng 12 triệu lao động cha đợc sử dụng và quỹ thời gian của ngời lao
động ở nông thôn cũng cha đợc sử dụng hết. Các yếu tố tự nhiên chỉ mang lại hiệu
quả thấp do có sự mất cân đối giữa lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn
chúng ta cần phải phát triển kinh tế hộ sản xuất. Trên thực tế đã cho thấy trong
những năm vừa qua hàng triệu cơ sở sản xuất đợc tạo ra bởi các hộ sản xuất trong
khu vực nông nông nghiệp và nông thôn.
Mặt khác, so cơ tạo hữu cơ thấp, quy mô sản xuất nhỏ, nên mức đầu t cho
một lao động trong kinh tế hộ sản xuất là thấp. Qua khảo sát Việt Nam cho thấy :
- Vốn đầu t cho hộ sản xuất: 1,5 triệu/1lao động/1 việc làm.
- Vốn đầu t cho 1 công ty t nhân: 3,5 triệu/1lao động/1 việc làm.
- Vốn đầu t cho kinh tế quốc doanh địa phơng:
3,5 triệu/1lao động/1 việc làm.
(ở đây chỉ tính vốn đầu t tài sản cố định)
Nh vậy, chi phí cho một lao động ở trong hộ sản xuất là ít tốn kém nhất.
Điều này đặt trong hoàn cảnh đất nớc ta còn là một nớc nghèo, vốn tích luỹ ít thì
càng khẳng định hộ sản xuất là một hình thức tổ chức kinh tế phù hợp góp phần
giải quyêts công ăn việc làm , nâng cao thu nhập cho lực lợng lao động trong cả n-
ớc nói chung và ở nông thôn nói riêng.
2.4.3. Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trờng thúc đẩy sản
xuất hàng hoá.
Ngày nay, hộ sản xuất hoạt động theo cơ chế thị trờng có sự tự do cạnh
tranh trong sản xuất hàng hoá, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộ sản xuất
phải quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất cái gì? Sản
xuất nh thế nào để trực tiếp quan hệ với thị trờng. Để đạt đợc điều này các đơn vị
kinh tế nói chung và hộ sản xuất nói riêng đều phải không ngừng nâng cao chất l-
ợng, mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu và một số biện pháp khác để kích
thích cầu từ đó mở rộng sản xuất đôngf thời đạt đợc hiệu quả kinh tế cao nhất.
Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, hộ sản xuất có thể dễ
dàng đáp ứng đợc những thay đổi của nhu cầu thị trờng mà không sợ ảnh hởng
đến tốn kêms về mặt chi phí. Thêm vào đó lại đợc Đảng và Nhà nớc có các chính
sách khuyến khích, hộ sản xuất không ngừng vơn lên tự khẳng định vị trí trên thị
trờng, tạo điều kiện cho thị trờng phát triển đầy đủ, đa dạng thúc đẩy quá trình sản
xuất hàng hoá. Nh vậy với khả năng nhạy bến trớc nhu cầu thị trờng, hộ sản xuất
đã góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của thị trờng tạo ra động lực
thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển cao hơn.
2.4.4. Hộ sản xuất thúc đẩy sự phân công lao động dần tới chuên môn hoá,
tạo khả năng hợp tác lao động trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi.
Kinh tế hộ đã từng bớc tạo sự chuyển dịch cơ cấu nông thôn, củng cố quan
hệ sản xuất, tăng cờng lực lợng sản xuất tạo sự phân công lao động trong nông
thôn từ nền sản xuất thuần nông lạc hậu, sản xuất hàng hoá kém phát triển sang
sản xuất hàng hoá phát triển hơn. Tự sự phân công lao động dẫn đến quá trình
chuyên môn hoá trong các hộ sản xuất. Đối với các hộ kinh doanh dịch vụ thì sự
chuyên môn hoá càng cao thì một yêu cầu tất yếu sẽ xuất hiện, đó là sự hợp tác lao
động giữa các hộ sản xuất với nhau. Nếu nh chuyên môn hoá làm cho năng xuất
lao động tăng cao, chất lợng sản phẩm tốt hơn thì hợp tác hoá sẽ làm cho quá trình
sản xuất hàng hoá đợc hoàn thiện đáp ứng đầy đủ nhu cầu của chính các hộ sản
xuất và từ đó đáp ứng nhu cầu thị trờng.
2.5. Chủ trơng của Đảng và Nhà nớc về phát triển kinh tế hộ sản xuất.
Nớc ta là một nớc nông nghiệp với 80% dân sso sống ở nông thôn, chúng ta
tiến hành lên CNXH dựa trên nền sản xuất thuần nông. Sớm nhận thức rõ vai trò
của nông nghiệp trong quá trình xây dựng đất nớc. Đảng và Nhà nớc ta từng bớc
có những chủ trơng chính sách về nông nghiệp, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển
làm nòng cốt cho phát triển kinh tế hộ nông thôn.
Những ngày đầu cải tạo XHCN, kinh tế hộ cá thể đợc coi là mảnh đất hàng
ngày hàng giờ đẻ ra CNTB. Do đó nó không đợc pháp luật thừa nhận, mà trái lại
nó còn đợc coi là đối tợng cải tạo. Sau đó, chúng ta đã nhận thấy trong điều kiện
một nớc nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trình độ sản xuất thấp, kinh tế hộ cá thể
sẽ trở thành nòng cốt để phát triển kinh tế nông thôn. Tháng 01/1981 Ban Bí th
Trung ơng Đảng ban hành chỉ thị 100 về khoán trong nông nghiệp, thực chất là
giải phóng (tự do hoá) sức lao động của hàng chục triệu hộ nông dân thoát khỏi sự
ràng buoọc của cơ chế tập trung.
Đại hộ Đảng toàn quốc lần thứ VI, với đờng lối đổi mới, nông nghiệp đợc
xác định là "mặt trận hàng đầu", tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế nhằm giải phóng
lực lợng sản xuất ở nông thôn, chuyển nền nông nghiệp từ tự túc tự cấp sang sản
xuất hàng hoá theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc, phát triển nền
kinh tế nhiều thành phấn. Đảng và Nhà nớc đã ban hành những chủ chơng, csc để
định hớng nêu trân. Nhờ đó, kinh tế hộ sản xuất dần đợc đặt vào đúng vị trí của nó.
Tháng 4/1988 - Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 10 nhằm cụ thể hoá
một bớc quan điểm đổi mới của ĐH VI đối với lĩnh vực quản lý nông nghiệp, tạo
điều kiện cho việc hình thành và thức đẩy kinh tế hộ sản xuất phát triển. Từ đây hộ
nông dân đợc thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh và
là đơn vị kinh tế cơ sở ở nông thôn.
Sau Nghị định 10 của Bộ Chính trị rồi đến Nghị định 66 HĐBT của Hội
đồng Bộ trởng ngày 2/3/1992, cùng luật doanh nghiệp t nhân NĐ 29 ngày
19/3/1998, luật công ty thì hộ sản xuất đã đợc thừa nhận là một đơn vị kinh tế bình
đẳng nh các thành phần kinh tế khác. Điều này đợc khẳng định tại điều 21 Hiến
pháp nớc CHXHCN Việt Nam năm 1992: "Kinh tế gia đình đợc khuyến khích
phát triển".
Đại hội lần thứ VII của Đảng chủ trơng phát triển nền kinh tế nớc ta nói
chung và đặc biệt đối với kinh tế hộ gia đình nói riêng.
Tháng 6/1993, tại kỳ họp lần thứ 5 (khoá VII), Đảng đã ban hàng nghị định
TW5, tiếp tục khẳng định quyền tự chủ của hộ với t cách là một chủ thể kinh tế ở
nông thôn đợc luật thừa nhận quyền sử dụng đất đai (5 quyền), quyền vay vốn tín
dụng, quyền lựa chọn phơng án sản xuất kinh doanh có lợi nhất, quyền tự do lu
thông tiêu thụ sản phẩm.
Nghị quyết TW5 cùng các văn bản luật, Nghị định của Chính phủ đã tạo
hành lang pháp lý, khơi dậy động lực cho hơn 10 triệu hộ nông dân phát triển. Từ
đó phát triển triển mạnh nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII với chủ trơng CNH - HĐH đất nớc.
Nghị quyết TW6 lần một (khoá VIII) với chủ trơng "tiếp tục đổi mới, đẩy
mạnh CNH - HĐH đất nớc, nhất là CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn" đã
khẳng định nông nghiệp nông thôn là lĩnh vực có vai trò cực kỳ quan trọng cả trớc
mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Cùng với các
chính sách về các thành phần kinh tế, kinh tế hộ đợc khuyến khích phát triển
"Kinh tế hộ gia đình tồn tại và phát triển lâu dài, luôn luôn có vị trí quan trọng".
II. Tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế hộ sản xuất.
1. Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là một phạm trù kinh tế hàng hoá. Bản chất của tín
dụng là quan hệ vay mợn có hoàn trả và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ
chuyển nhợng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng
có lợi. Trong nền kinh tế hàng hoá có nhiều loại hình tín dụng nh : tina dụng thơng
mại, tián dụng ngân hàng, tín dụng nhà nớc, tín dụng tiêu dùng.
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng nói
chung. Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa các ngân hàng, tổ
chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân khác, đợc thực hiện dới hình
thức tiền tệ và theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
Điều 20 luật các tổ chức tín dụng quy định :
"Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có,
nguồn vốn huy động để cấp tín dụng"
"Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng
một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,
cho thuê tài chính. Bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác"
Do đặc điểm riêng của mình tín dụng ngân hàng đạt đợc u thế hơn các hình
thức tín dụng khác về khối lợng, thời hạn và phạm vi đầu t. Với đặc điểm tín dụng
bằng tiền, vốn TDNH có khả năng đầu t chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của
sản xuất và lu thông hàng hoá. Vì vậy mà tín dụng ngân hàng ngày càng trở thành
một hình thức tín dụng quan trọng trong các hình thức tín dụng hiện có.
Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng còn sử dụng thuật ngữ "tín dụng
hộ sản xuất". Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ tín dụng ngân hàng giữa một bên
ngân hàng với một bên là hộ sản xuất hàng hoá. Từ khi đợc thừa nhận là chủ thể
trong mọi quan hệ xã hội, có thừa kế, quyền sở hữu tài sản, có phơng án sản xuất
kinh doanh hiệu quả. Có tài sản thế chấp thì hộ sản xuất mới có khả năng và đủ t
cách để tham gia quan hệ tín dụng vơi ngân hàng. Đây cũng chính là điều kiện cần
để đáp ứng điều kiện vay vốn ngân hàng.
Đối với ngân hàng, t khi chuyển hệ thống ngân hàng hai cấp, hạch toán
kinh tế và kinh doanh độc lập, các ngân hàng phải tự tìm kiếm thị trờng với mục
tiêu an toàn và lợi nhuận. Thêm vào đó là Nghị định 14/CP ngày 02/03/1993 của
Thủ tớng Chính phủ, thông t 01 - TD - NH ngày 26/03/1993 của Thống đốc ngân
hàng Nhà nớc hớng dẫn thực hiện nghị định 14/CP về chính sách cho hộ sản xuất
vay vốn để phát triển nông - lâm - ng nghiệp. Và gần đây là quy định số
67/1999/QĐ - TTg của Thủ tớng Chính phủ, văn bản số 320/CV - NHNN 14 của
Thống đốc NHNN hớng dẫn thực hiện quy định trên, văn bản số 791/NHN
o
- 06
của Tổng giám đốc NHN
o
VN về thực hiện một số chính sách ngân hàng phụ vụ
phát triển nông nghiệp nông thôn. Với các văn bản trên đã mở ra một thị trờng mới
cho ngân hàng trong hoạt động tín dụng. Trong khi đó hộ sản xuất đã cho thấy sản
xuất có hiệu quả nhng còn thiếu vốn để mở rộng tiến hành sản xuất kinh doanh.
Đứng trớc tình hình đó, việc tồn tại một hình thức tín dụng ngân hàng đối với hộ
sản xuất là một yết tố phù hợp với cung cầu trên thị trờng đợc môi trờng xã hội,
pháp luật cho phép.
2. Vai trò tín dụng ngân hàng với kinh tế hộ sản xuất.
Trong nền kinh tế hàng hoá các doanh nghiệp khổng thể tiến hành sản xuất
kinh doanh nếu không có vốn. Đặc biệt là trong điều kiện nớc ta hiện nay, thiếu
vốn là hiện tợng thờng xuyên xảy ra đối với các đơn vị kinh tế, không chỉ riêng đối
với hộ sản xuất. Vì vậy vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, nó
trở thành "bà đỡ" trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Nhờ có vốn tín dụng, các đơn vị kinh tế không những đảm bảo quá trình
sản xuất kinh doanh bình thờng mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp
dụng kỹ thuật mới đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh. Riêng đối với hộ sản
xuất, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ
sản xuất.
2.1. Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì quá
trình sản xuất liên tục, góp phần đầu t phát triển kinh tế.
Sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả có ý nghĩa quan trọng đối với
sự tăng trởng kinh tế. Nếu nh vốn tham gia vào quá trình đầu t không đem lại
hiệu quả sẽ không có sự tăng trởng thậm chí còn gây sức ép tới lạm phát, tạo
ra kết cục trái ngợc. Thực tế chó thấy, quá trình sản xuất luôn trải qua những
giai đoạn khác nhau, vì vậy các doanh nghiệp nói chung và hộ sản xuất nói
riêng có lúc thừa vốn có lúc thiếu vốn. Việc vay bổ sung vốn lu động sẽ giúp
cho quá trình sản xuất đợc liên tục. Mặt khác, vốn đầu t từ bên ngoài vào còn
giúp cho các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình đổi mới công nghệ
nhất là trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc nh nớc ta hiện
nay.
Với đặc trng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất với sự chuyên môn
hoá sản xuất trong xã hội ngày càng cao, đã dẫn đến tình trạng các hộ sản
xuất cha thu hoạch sản xuất, cha có hàng hoá để bán thì cha có thu nhập, nhng
trong khi đó họ vẫn cần tiềnđể trang trải cho các khoản chi phí sản xuất, mua
sắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi phí khác. Trong những lúc
này các hộ sản xuất cần có sự hỗ trợ giúp đỡ của tín dụng ngân hàng để có đủ
vốn duy trì sản xuất đợc liên tục. Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các hộ sản xuất có
thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có khác nh lao động, tài nguyên để tạo
ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy việc sắp xếp tổ chức lại sản xuất, hình thành
cơ cấu kinh tế hợp lý từ đó nâng cao đời sống vật chất cũng nh tình thần cho
mọi ngời.
Nh vậy có thể khẳng định rằng tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan
trọng đối với việc đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất ở nớc ta trong giai
đoạn hiện nay. Nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất là cần thiết và rất lớn,
khu vực nông thôn trở thành một thị trờng to lớn của tín dụng ngân hàng. cũng
vì thế mà thị phần của các hộ sản xuất trong d nợ của ngân hàng nông nghiệp
càng tăng.
2.2. Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trungvốn và tập
trung sản xuất.
Trong cơ chế thị trờng, vai trò tập trung vố tập trung sản xuất của tín
dụng ngân hàng đã đợc thực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề sống còn đối với các ngân hàng phải
đảm bảo đợc độ an toàn và có lợi nhuận, tránh rủi ro trong cho vay.
Bằng cách tập trung vốn vào các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh
doanh có hiệu quả, có nghĩa là vốn đã đợc bổ sung vào đúng chỗ còn thiếu,
giúp cho các hộ sản xuất càng có điều kiện để mở rộng sản xuất có hiệu quả
hơn, đóng góp cho xã hội nhiều sản phẩm với chất lợng cao thúc đẩy quá trình
tăng trởng kinh tế và đồng thời ngân hàng cũng đảm bảo tránh đợc rủi ro tín
dụng.
Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu t, ngân hàng
phải quan tâm đến nguồn vốn đã huy động đợc để cho hộ sản xuất vay. Vì vậy
ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh
vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lu thông. trên cơ sở đó hộ sản
xuất phải tập trng vốn nh thế nào để sản xuất, góp phần tích cực vào quá trình
vận động liên tục của nguồn vốn.
2.3. Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống,
ngành nghề mới giải quyết việc làm cho ngời lao động.
Việt Nam là một nớc nông nghiệp, có nhiều làng nghề truyền thốg, nh-
ng cha đợc quan tâm đến các ngành nghề truyền thống có khả năng đạt hiệu
quả kinh tế đặc biệt trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn. Phát huy đợc làng nghề truyền thống cũng chính là
phát huy đợc nội lực của kinh tế hộ. Và tín dụng ngân hàng sẽ là công cụ tài
trợ cho các ngành nghề mới thu hút đợc số lao động nhàn rỗi giải quyết việc
làm cho ngời lao động. Từ đó góp phần làm phát triển toàn diện nông, lâm,
ng nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản, công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thơng nghiệp, du lịch,
dịch vụ ở các thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối
ngoại.
Do đó tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghề
này phát triển một cách nhịp nhành và đồng bộ. Nh vậy, bằng động tác gián
tiếp ngân hàng đã kích thích các hộ sản xuất nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,
phải hoạch định kinh doanh để tính toán có hiệu quả, giảm cho phí sản xuất
hàng hoá, góp phần vào phát triển kinh tế hộ nói riêng và nền kinh tế cả nớc
nói chung.
2.4. Vai trò của tín dụng ngân hàng về mặt chính trị - xã hội:
Tín dụng ngân hàng không những có vai trò quan trọng trong việc thúc
đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt xã hội.
Thông qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã
góp phần giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động. Đó là một trong
những vấn đề cấp bách hiện nay ở nớc ta. Có việc làm, ngời lao động có thu
nhập sẽ hạn chế đợc tiêu cực xã hội. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy các ngành
nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ở nông thôn, hạn chế
những luồng di dân vào thành phố. Thực hiện đợc vấn đề này là do các ngành
nghề phát triển sẽ làm tăng thu nhập cho nông dân, đời sống văn hoá, kinh tế
xã hội tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thi càng nhích lại gần
nhau, hạn chế bợt sự phân hoá bất hợp lý trong xã hội, giữa vững an ninh
chính trị.
Ngoài ra, tín dụng ngân hàng thực hiện tốt các chính sách đổi mới của
Đảng và Nhà nớc, điển hình là chính sách xoá đói giảm nghèo. Tín dụng ngân
hàng thúc đẩy các hộ sản xuất phát triển nhanh, làm thay đổi bộ mặt nông
thôn, các hộ nghèo trở nên khá hơn, hộ khá trở nên hộ giàu. Chính vì lẽ đó các
tệ nạn xã hội dần dần đợc xoá bỏ nh: rợu chè, cờ bạc, mê tín dị đoan, nâng cao
trình độ dân trí, trình độ chuyên môn của lực lợng kinh doanh. Qua đây, chúng
ta thấy đợc vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc củng cố lòng tin của
nông dân nói chung và hộ sản xuất nói riêng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà
nớc.
3. Giới thiệu một số chính sách tín dụng hộ sản xuất.
3.1. Chính sách của chính phủ và ngân hàng nhà nớc đối với tín dụng hộ sản xuất.
Sau hơn 10 năm đổi mới, việc thực thi hàng loạt chủ trơng, chính sách, cơ
chế quản lý của Đảng và Nhà nớc, nền kinh tế nớc ta đã thu đợc những thành tựu
trên nhiều mặt, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; đất nớc thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế, tạo tiền đề bớc vào giai đoạn phát triển mới; đẩy mạnh công
nghiệp hoá - hiện đại hoá, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trờng quốc tế.
Để phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chính
sách tín dụng ngân hàng đã và đang thực hiện đổi mới đồng bộ và hữu đáp ứng các
yêu cầu mới, tạo bớc đột phá trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các
nguồn nội lực và nguồn bên ngoài. Nhìn lại các chính sách tín dụng ngân hàng
phục vụ phát triển nông nghiệp - nông thôn có thể nói chính sách tín dụng nhằm
tạo động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho
ngời lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn luôn là
một chính sách quan trong nhất của Đảng và Nhà nớc ta.
Ngày 26 tháng 8 năm 1991 (Ngày đầu của thời kỳ đổi mới) Hội đồng bộ tr-
ởng (nay là Chính phủ) đã có chỉ thị số 202/CT nêu rõ: "Việc cho vay của ngân
hàng để phát triển sản xuất nông, lâm, ng, diêm nghiệp cần đợc chuyển sang cho
vay trực tiếp đối với hộ sản xuất thuộc các ngành này thực sự trở thành đơn vị kinh
tế tự chủ".
Ngày 2/03/1993 trên cơ sở kết quả và kinh nghiệm sau hơn 1 năm "làm
thử" việc chuyển sang cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 14/CP về "chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển sản xuất
nông, lâm, ng, diêm nghiệp và kinh tế nông thôn". Đây là bớc tiến mới, vì chỉ thị
202/CP chủ yếu chỉ đề cập đến việc chuyển hớng tín dụng ngân hàng sang cho vay
trực tiếp hộ sản xuất và triển khai thực hiện nh một chơng trình thử nghiệm.
Ngày 20/03/1999 chính phủ ban hành Quyết định số 67/199/QĐ-TTg về
"một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp nông
thôn".
Ngày 16 tháng 04 năm 1999 Thống đốc ngân hàng nhà nớc có văn bản số
320 CV-NHN 14 hớng dẫn thực hiện một số nội dung trong Nghị định 67 của
Chính phủ và giao cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
chịu trách nhiệm chủ yếu thực hiện.
Thống đốc ngân hàng nhà nớc Việt Nam yêu cầu các chi nhánh ngân hàng
thực hiện một số nội dung sau có liên quan tới tín dụng hộ sản xuất.
* Về nguồn vốn :
- Các chi nhánh thành viên phải có biện pháp phù hợp để huy động nguồn
vốn của các tổ chức kinh tế - xã hội, đoàn thể đã góp phần phục vụ cho phát triển
nông nghiệp và nông thôn của địa phơng.
- Để tranh thủ ngày càng nhiều nguồn vốn từ nớc ngoài, các chi nhánh phải
thực hiện việc giải ngân đúng cẩm nang và đúng thời gian bảo đảm hiệu quả cao
các dự án uỷ thác để tăng tín nhiệm của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam đối với Chính phủ và các tổ chức tín dụng nớc ngoài.
Đối với tín dụng thực hiện các chơng trình kinh tế theo chính sách của
Đảng, Nhà nớc có u đãi lãi suất, phải tổ chức tốt khâu thẩm định và giải ngân để
nhận toàn bộ nguồn vốn từ ngân sách Nhà nớc chuyển sang Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nôngthôn Việt Nam cho vay các chơng trình này.
* Về cơ chế tín dụng:
Các chi nhánh tổ chức tốt việc điều tra nắm nhu cầu vốn phục vụ cho việc
phát triển kinh tế hộ trên địa bàn.
* Về cơ chế đảm bảo tiền vay.
- Đối với hộ gia đình sản xuất nông - lâm - ng - diêm nghiệp, mức vay tối
đa đến 10 triệu đồng không phải thế chấp tài sản, nhng mức vay cụ thể phải căn cứ
vào nhu cầu vốn hợp lỹ cho từng đối tợng vay và có hiệu quả của dự án sản xuất
kinh doanh. Đối với hộ vay trên 10 triệu đồng phải thực hiện bảo đảm tiền vay
bằng tài sản, quyền sử dụng đất
- Đối với các khoản vay khắc phục thiên tai thì ngời vay không phải thực
hiện quy định đảm bảo tiền vay. Trong trờng hợp có rủi ro, các chi nhánh báo cáo
cho Thống đốc để trình Thủ tớng chính phủ xem xét giải quyết.
* Về mạng lới phục vụ và giao dịch:
- Các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh,
thành phố phải căn cứ vào địa bàn hoạt động, đối tợng tín dụng, khả năng tài
chính, từng bớc mở rộng mạng lớu ngân hàng loại IV (xã, liên xã, thị trấn) để đáp
ứng yêu cầu và huy động vốn vừa cho vay tạo thuận tiện cho khách hàng, thực
hiện giải ngân tại chỗ, trực tiếp đến hộ vay vốn.
- Việc uỷ thác cho quỹ tín dụng và các ngân hàng thơng mại cổ phần ở
nông thôn làm đại lý một số nghiệp vụ tín dụng, chi nhánh phải xem xét đầy đủ
khả năng quản lý, tài chính và khả năng thực hiện nghiệp vụ đại lý của tổ chức này
và phải có đề án trình Tổng giám đốc xem xét quyết định mới thực hiện.
3.2. Một số quyết định chính sách của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam đối với tín dụng đầu t hộ sản xuất.
- Căn cứ điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam ban hàng kèm theo Quyết định số 390/QĐ - NHNN5
ngày 22 tháng 11 năm 1997 của Thống đốc ngân hàng nhà nớc Việt Nam.
- Căn cứ Quyết định số 284/2000/QĐ - NHNN1 ngày 21/9/2000 của Thống
đốc ngân hàng Nhà nớc Việt Nam về đối tợng cho vay bằng ngoại tệ của tổ ch-
chính sách tín dụng.
- Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam kỳ họp lần thứ 15.
Ban hành kèm theo quyết định này quy định cho vay đối với khách hàng.
- Quyết định này (Quyết định số 06/QĐ-HĐQT ngày 18 thời gianáng 01
năm 2001) có hiệu lực kể từ ngày 02 tháng 02 năm 2001 và thay thế các quy định
của Chủ tịch hội đồng quản trị, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam sau đây:
+ Quyết định số 180/QĐ/HĐQT ngày 15 tháng 12 năm 1998 của Hội đồng
quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam v/v ban hành
cho vay đối với khách hàng.
Các văn bản hớng dẫn Quyết định số 180/QĐ/HĐQUá TRìNH của Tổng
giám đốc: văn bản số 1110/NHNo-05 ngày 2 tháng 6 năm 1999 về mẫu biểu cho
vay theo QĐ 180; văn bản số 2375/NHNo-05 ngày 18 tháng 10 năm 1999 v/v thực
hiện Quyết định số 180/QĐ/HĐQUá TRìNH.
Trong phạm vi đề tài này chỉ giới thiệu một số quy định việc cho vay bằng
đồng Việt Nam của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
đối với khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh dịch vụ
đầu t phát triển và đầu t phát triển và đời sống của kinh tế hộ sản xuất.
* Về đối tợng áp dụng: Hộ gia đình, cá nhân thờng trú tại địa bàn nơi chi
nhánh Ngân hàng nông nghiệp đóng làn trụ sở. Trờng hợp hộ chỉ có đăng ký tạm
trú thì phải có xác nhận hộ khẩu của nơi thờng trú và có xác nhận UBND xã (ph-
ờng) nơi đến cho phép hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Đại diện cho hộ gia đình để giao dịch đối với ngân hàng là chủ hộ hoặc
ngời đại diện phải có đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự.
- Đối với hộ nông dân (nông - lâm - ng - diêm nghiệp) phải đợc cơ quan có
thẩm quyền cho thiê giao quyền sử dụng đất, mặt nớc.
- Đối với hộ đánh bắt thuỷ sản: Phải có phơng tiện đánh bắt và đợc Cục bảo
vệ nguồn lợi thuỷ sản cho phép đánh bắt.
- Đối với hộ gia đình cá nhân kinh doanh: Phải đợc cơ quan thẩm quyền cấp
giấy phép kinh doanh
- Đối với hộ làm kinh tế gia đình và hộ khác phải đợc UBND xã (phờng)
xác nhận cho phép sản xuất kinh doanh hoặc làm kinh tế gia đình. Riêng đối với
hộ là nông lâm trờng phải có xác nhận của Giám đốc nông trờng.
* Về nguyên tắc vay vốn.
- Khách hàng phải đảm bảo:
+ Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng (mục đích
sử dụng vốn vay hợp pháp, phù hợp với chơng trình phát triển kinh tế xã hội của
địa phơng, phù hợp với giấy phép kinh doanh với mục đích đợc giao, thuê, khoán
quyền sử dụng mặt nớc).
+ Phải có dự án đầu t hoặc phơng án sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
+ Phải trả gốc và lãi tiền vay đúng theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Nếu không thực hiện đúng sẽ phải chịu trách nhiệm trớc pháp luật và ngân hàng
Nông nghiệp có quyền bán tài sản làm đảm bảo theo thoả thuận trong hợp đồng để
thu nợ theo quy đinh của pháp luật.
+ Việc đản bảo tiền vay phải thực hiện theo quy định của Chính phủ, Thống
đốc ngân hàng Nhà nớc và hớng dẫn về đảm bảo tiền vay của ngân hàng nông
nghiệp đối với khách hàng.
- Các ngân hàng nông nghiệp cơ sở phải đảm bảo:
+ Cho vay các đối tợng là giá trị vật t hàng hoá, máy móc thiết bị và các
khoản chi phí để khách hàng thực hiện dự án hoặc phơng án sản xuất kinh doanh.
+ Thoả thuận thời hạn cho vay: Cho vay ngắn hạn đợc xác định phù hợp với
chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng tối đa không quá
12 tháng. Cho vay trung và dài hạn đợc xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn
của dự án đầu t, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn cho vay
của ngân hàng nông nghiệp (cho vay trung hạn từ 12 - 60 tháng cho vay dài hạn từ
60 tháng trở lên nhng không quá hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành bảng
hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với cho vay
các dự án phục vụ đời sống).
+ Thoả thuận lãi suất cho vay cho phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà
nớc và Ngân hàng nông nghiệp tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng.
Trờng hợp khản vay bị chuyển sang nợ quá hạn phải áp dụng lãi suất nợ quá
hạn theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc tại thời điểm ký hợp đồng
tín dụng.
+ Mức cho vay: Ngân hàng phải căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách
hàng, vốn tự có của khách hàng tham gia vào dự án: mức cho vay tối đa không quá
70% tổng nhu cầu vốn của dự án (đối với cho vay đời sống là không quá 60% tổng
nhu cầu) tỷ lẹe cho vay không quá 70% giá trị tài sản làm đảm bảo tiền vay.
+ Ngân hàng nông nghiệp đợc miễn giảm tiền vay của khách hàng theo
nguyên tắc khách hàng bị tổn thất về tài sản có liên quan đến vốn vay do nguyên
nhân - Ngân hàng nông nghiệp không đợc miễn giảm lãi tiền vay đối với khách
hàng thuộc đối tợng quy định tại điểm 1 điều 78 luật của tổ chức tín dụng.
+ Ngân hàng nông nghiệp có nghĩa vụ thực hiện đúng thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng, lu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Ngân hàng nông nghiệp nơi cho có trách nhiệm kiểm tra, giám sát quá
trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng nhằm đôn đốc khách
hàng thực hiện đầy đủ những cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng phù
hợp với đặc điểm hoạt động của chi nhánh và đặc điểm kinh doanh, sử dụng vốn
của khách hàng.
Tiến hành kiểm tra trớc khi cho vay đó là việc thẩm định các điều kiện vay
vốn theo quy định.
Kiểm tra trong khi cho vay bao gồm: Kiểm tra việc giải ngân theo tốc độ
thực hiện dự án hoặc phơng án sản xuất kinh doanh.
Kiểm tra sau khi cho vay bao gồm: Kiểm tra mục đích sử dụng tiền vay sau
khi cho vay, kiểm tra hiệu quả của dự án hoặc phơng án, kỉem tra hiện trạng tài sản
đảm bảo tiền vay.
Sau khi kiểm tra vốn vay nếu có phát hiện khách vi phạm, giám đốc Ngân
hàng nông nghiệp cho vay căn cứ vào kết quả kiểm tra tuỳ theo mức độ vi phạm
của khách hàng mà quyết định xử lý cho phù hợp và đúng quy định. Tạm ngng
cho vay trong trờng hợp khách hàng sử dụng sai mục đích, cung cấp thông tin sai
sự thật nhng đã đợc khắc phục và sửa chữa. Chấm dứt cho vay trong các trờng hợp
khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng đã cam kết nhng không khắc phục và sửa
chữa, khách hàng ngừng sản xuất có thể dẫn đến phá sản. Ngân hàng sẽ tiến hàng
khởi kiện trớc pháp luật đối với khách hàng vi phạm một trong những điều sau? Vi
phạm hợp đồng tín dụng và đã đợc ngân hàng thông báo nhng không khắc phục.
Có sự quá hạn do nguyên nhân chủ quan nhng không có biệm pháp để trả nợ nhng
cố tình trốn tránh trả nợ ngân hàng theo thoả thuận, có hành vi lừa đảo, gian lận
(thủ tục khởi kiện theo quy định của pháp luật).
II. Đặc điểm huy động vốn và sản xuất vốn tín dụng ngân hàng đối với hộ sản
xuất.
1. Đặc điểm huy động vốn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét