LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phương hướng và giải pháp nâng cao vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết kinh tế vĩ mô ở việt nam thời kỳ 2004 – 2010": http://123doc.vn/document/1051284-phuong-huong-va-giai-phap-nang-cao-vai-tro-cua-chinh-sach-tien-te-trong-dieu-tiet-kinh-te-vi-mo-o-viet-nam-thoi-ky-2004-2010.htm
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 5
Chơng i
Tầm quan trọng của chính sách tiền tệ
trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô
I - Cơ sở khách quan cho sự can thiệp của Chính Phủ vào nền kinh tế
1.1. Nền kinh tế thị trờng và những khuyết tật của nó
1.1.1. Khái niệm nền kinh tế thị tr ờng
Nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế hàng hoá phát triển cao, đợc đánh dấu bởi
các nét đặc trng sau đây:
Quá trình lu thông vật chất trong nền kinh tế xã hội đợc thực hiện chủ yếu
bằng phơng thức mua bán.
Ngời tham gia mua bán có quyền tự do nhất định trên ba mặt: nội dung mua
bán, đối tác mua bán và giá cả trao đổi.
Đánh giá u điểm của kinh tế thị trờng là một quá trình, ban đầu phái tân cổ
điển mà điển hình là W.A.Smith đã đề cao tính u việt của kinh tế thị trờng thuần
tuý. Nhng thực tiễn cạnh tranh của nền kinh tế thị trờng thuần tuý đã chứng tỏ
những u điểm đó là ảo tởng, hoặc nếu có cũng chỉ là những u điểm không đáng kể.
1.1.2. Các thất bại thị tr ờng - cơ sở để Chính Phủ can thiệp vào nền kinh tế
Độc quyền thị trờng
Khi thị trờng chỉ do một hay một số ít các tổ chức thống trị thì nguy cơ tồn tại
một thế lực độc quyền, chi phối thị trờng là rất lớn. Các tổ chức có quyền lực độc
quyền có thể tạo thêm lợi nhuận siêu ngạch cho mình bằng cách tăng giá, bán với giá
cao hơn và cung cấp mức sản lợng thấp hơn thị trờng cạnh tranh. Ngời mua phải mua
với giá cao hơn rất nhiều nhng lại phải chấp nhận chất lợng hàng hoá thấp hơn, phải
cạnh tranh nhau để có đợc hàng hoá. Và rất nhiều ngời do không đủ khả năng chi trả
nên không có điều kiện tiêu dùng hay tiếp cận hàng hoá đó.
Ngoại ứng
Đây là trờng hợp xảy ra khi tác động của một giao dịch trên thị trờng có ảnh
hởng đến một đối tợng thứ ba ngoài ngời bán và ngời mua, nhng những tác động
này không đợc tính đến. Ví dụ, khói xả từ các phơng tiện giao thông hoặc nhà máy
gây ô nhiễm môi trờng, nhng những tổn hại đó không đợc tính thành chi phí cho các
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 6
chủ phơng tiện và nhà máy, do vậy họ không có ý thức giảm bớt hoạt động của
mình vì lợi ích chung.
Hàng hoá công cộng
Trong nhiều trờng hợp thị trờng không thể cung cấp những hàng hoá hoặc
dịch vụ hữu ích cho xã hội, đặc điểm của hàng hoá này là không dễ gì ngăn cản
những cá nhân không đóng góp tài chính để cung cấp chúng, tiêu dùng chúng. Ví
dụ, ngay cả khi ai đó từ chối góp tiền cho ngân sách quốc phòng thì anh ta vẫn đợc
bảo vệ chừng nào hệ thống quốc phòng của quốc gia đó còn hoạt động. Điều đó có
nghĩa rằng, các hãng t nhân nếu sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng thì sẽ gặp
khó khăn rất lớn trong việc tạo doanh thu để bù đắp chi phí. Đây đợc coi là luận cứ
mạnh nhất chứng minh cho sự cần thiết phải có Chính Phủ đứng ra can thiệp vào
nền kinh tế.
Thông tin không hoàn hảo
Ngời tiêu dùng thờng yêu cầu Chính Phủ phải can thiệp vào thị trờng vì họ
không có đủ thông tin về việc mua sắm hàng hoá hoặc tham gia những công việc
nhất định. Đôi khi một bên nào đó tham gia thị trờng có thông tin đầy đủ về các đặc
tính sản phẩm hơn bên kia. Chẳng hạn trong thị trờng y tế, ngời bán (bác sĩ) có
nhiều thông tin hơn ngời mua (bệnh nhân ); trong thị trờng bảo hiểm ngời mua biết
rõ về xác suất xảy ra rủi ro hơn ngời bán (công ty bảo hiểm). Khó khăn trong việc
thu thập đủ thông tin đã có ảnh hởng tiêu cực đến hoạt động của nhiều thị trờng,
khiến các nguồn lực đợc phân bổ quá nhiều hoặc quá ít cho thị trờng đó so với mức
hiệu quả xã hội. Ngoài ra nó còn tạo động cơ cho bên có thông tin đầy đủ hơn lợi
dụng lợi thế này để thu lợi cho mình trên sự thiệt thòi của bên kia. Bất ổn định kinh
tế
Sự vận hành mang tính chất chu kỳ của nền kinh tế đã khiến lạm phát và thất
nghiệp trở thành những căn bệnh kinh niên của nền kinh tế thị trờng và gây nhiều
tổn thất cho xã hội. Việc Chính Phủ chủ động sử dụng các chính sách tài khoá và
tiền tệ để cố gắng ổn định hoá nền kinh tế là những nỗ lực để đạt đến trạng thái toàn
dụng nhân công. Mặc dù các chính sách ổn định hoá của Chính Phủ nhiều khi
không tiêu hao nhiều nguồn lực của xã hội, nhng lại trợ giúp đắc lực để thị trờng
hoạt động hiệu quả hơn.
Những nguyên nhân trên đây về các thất bại của thị trờng cho thấy, bản
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 7
thân thị trờng có thể đa đến những kết cục phi hiệu quả nếu không có sự can thiệp
của Chính Phủ. Nhng ngay cả khi nền kinh tế đã vận hành có hiệu quả thì vẫn còn
hai lý do nữa để Chính Phủ có thể can thiệp, đó là phân phối lại thu nhập và hàng
hoá khuyến dụng.
1.2. Vai trò của Chính phủ trong sự phát triển kinh tế
1.2.1. Vai trò của Chính phủ
Trong mô hình kinh tế, Chính phủ (G) cũng là một tác nhân kinh tế nh các
tác nhân ngời tiêu dùng (C), ngời sản xuất (I) và ngời nớc ngoài (X M) trong
việc tạo ra giá trị sản lợng: Y = C + I + G + (X M)
Tuy nhiên trong nền kinh tế hỗn hợp Chính phủ có vai trò quan trọng. Về ph-
ơng diện là tác nhân kinh tế, Chính phủ vừa là ngời tiêu dùng (C) cũng vừa là ngời
sản xuất (I) và do đó cũng có tham gia vào hành vi xuất nhập khẩu (X M). Do
vậy Chính phủ thực tế có tham gia vào tổng cung và tổng cầu, điều hoà tiền tệ giá
cả. Những mối quan hệ này cho thấy vai trò rất lớn của Chính phủ trong hoạt động
của thị trờng. Về phơng diện ngời quản lý nền kinh tế vĩ mô, chính phủ thông qua
thể chế, các chính sách và công cụ để tạo ra điều kiện cho sự ổn định và sự phát
triển.
Mặt khác, việc mở rộng kinh tế thị trờng đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà
nớc không chỉ vì thị trờng có những khuyết tật, mà còn vì xã hội đặt ra mục tiêu mà
thị trờng dù có hoạt động tốt cũng không thể đáp ứng đợc. Theo Samuelson, Chính
phủ cần tạo ra môi trờng ổn định để các doanh nghiệp và hộ gia đình có thể tiến
hành sản xuất và trao đổi sản phẩm thuận lợi, đa ra định hớng cơ bản về phát triển
kinh tế cho từng thời kỳ và sử dụng các công cụ nh thuế quan, tín dụng, trợ giá để
hớng dẫn các ngành, doanh nghiệp hoạt động. Chính phủ duy trì công ăn, việc làm
ở mức cao bằng cách đa ra các chính sách thuế, chi tiêu và tiền tệ hợp lý, đồng thời
khuyến khích một tỷ lệ tăng trởng hợp lý, chống lạm phát và giảm ô nhiễm môi tr-
ờng. Chính phủ thực hiện phân phối lại thu nhập, các hoạt động phúc lợi công cộng
nh cung cấp phúc lợi cho ngời già, ngời tàn tật và ngời thất nghiệp. Để thể hiện vai
trò đó chính phủ thực hiện các chức năng của mình.
1.2.2. Chức năng của Chính phủ
Bảo đảm các lợi ích công cộng của xã hội, thực hiện điều chỉnh quyền và tài
sản của công dân bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội.
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 8
Đó là bảo đảm trật tự, an ninh quốc phòng, bảo đảm phát triển các sự nghiệp
phúc lợi công cộng của xã hội nh giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, bảo hiểm và bảo
vệ môi trờng. Quy định các quyền của công dân, bảo đảm cho cá nhân, tổ chức một
sự tự do hoạt động kinh tế, chống lại sự độc quyền, bảo đảm sự ổn định về sở hữu
các tài sản để có thể phát huy đ ợc mọi khả năng về nguồn vốn, công nghệ và
nhân lực cho sự phát triển.
Phân bổ nguồn lực, tăng cờng và hoàn thiện các quan hệ thị trờng tạo thuận
lợi cho sự tăng trởng nhanh chóng.
Mục tiêu kinh tế trọng tâm của Chính phủ là hỗ trợ việc phân bổ nguồn lực
để nâng cao hiệu quả kinh tế, đạt mức nh xã hội mong muốn. Chính phủ đứng ra
cung cấp các loại hàng hoá công cộng, điều tiết các luồng đầu t vào các ngành, các
vùng theo quy hoạch chung, khắc phục thất bại của thị trờng liên quan đến tính phi
hiệu quả nh độc quyền, ngoại ứng hay thông tin không hoàn hảo. Bên cạnh đó phải
bổ sung những mặt yếu mà thị trờng không thể tạo ra đợc, nh các ngành sản xuất có
tính chất xơng sống của nền kinh tế, phân bố đúng đắn nguồn nhân lực giữa thành
thị và nông thôn, phát triển các cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội.
Mặt khác thị trờng _ nơi quan hệ cung cầu đợc thực hiện thông qua giá cả _
đã tạo động lực thúc đẩy sản xuất, phân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực. Do
vậy phải quy định chính sách và luật để mở rộng hơn nữa quy mô thị trờng, tạo ra
sự giao lu thơng mại nhằm kích thích sự đổi mới công nghệ và tăng thêm đầu t, dẫn
tới sự tăng trởng nhanh.
Phân phối lại thu nhập.
Ngay cả khi bàn tay vô hình của thị trờng có hiệu quả thì nó vẫn có thể tạo
ra những sự phân phối thu nhập rất bất bình đẳng. Khi quốc gia còn ở mức phát
triển thấp, những nguồn lực sẵn có dành cho việc phân phối lại còn rất hạn chế. Nh-
ng khi đã phát triển cao hơn thì cùng với sự thịnh vợng chung, Chính phủ cũng có
khả năng dành nhiều nguồn lực hơn để cung cấp các dịch vụ cho ngời nghèo. Đây
đợc coi là chức năng kinh tế lớn thứ hai của Chính phủ. Phân phối lại thu nhập th-
ờng đợc thực hiện thông qua chính sách thuế khoá và chi tiêu.
ổn định kinh tế vĩ mô, tổ chức và phối hợp hoạt động trên phạm vi quốc gia,
lựa chọn và vạch ra kế hoạch, thúc đẩy có hiệu quả sự phát triển.
Ngày nay khi khoa học kinh tế đã phát triển mạnh, loài ngời đã có nhận thức
đầy đủ hơn về nguyên nhân gây ra lạm phát, thất nghiệp và các bất ổn định kinh tế
khác, cũng nh khả năng can thiệp của Chính phủ để khắc phục các hiện tợng đó. Vì
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 9
thế Chính phủ hiện nay có trách nhiệm không để tái diễn các cuộc suy thoái hoặc
khủng hoảng trầm trọng nh những năm 30 nữa. Công cụ để Chính phủ thực hiện
chức năng này là các chính sách tài khoá, tiền tệ và sự giám sát chặt chẽ thị trờng
tài chính. Ngoài ra Chính phủ còn tập trung vào hoạch định các chính sách thúc đẩy
tăng trởng dài hạn.
Căn cứ vào những mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, Chính phủ đa ra các chế độ,
tổ chức bộ máy làm việc ở các cấp, phối hợp và điều hoà hoạt động của chính quyền
phù hợp với bộ máy kinh tế chung.
Đại diện cho quốc gia trên trờng quốc tế.
Trong những năm gần đây, thơng mại và tài chính quốc tế đã trở nên hết sức
quan trọng. Do đó Chính phủ đóng vai trò thiết yếu là đại diện cho quyền lợi quốc gia
trên các diễn đàn quốc tế và đàm phán các hiệp định cùng có lợi với quốc gia khác
trên thế giới. Các lĩnh vực thơng mại xuất hiện trên các diễn đàn kinh tế quốc tế ngày
nay là: Tự do hoá thơng mại giảm dần các rào cản nhằm khuyến khích chuyên môn
hoá và phân công lao động quốc tế; Các chơng trình hỗ trợ quốc tế giúp cải thiện đời
sống cho ngời nghèo ở các nớc khác; Phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô giữa các
quốc gia để chống lại lạm phát, thất nghiệp và khủng hoảng
1.3. Các công cụ của Chính phủ để can thiệp vào nền kinh tế thị trờng
Trong nền kinh tế vĩ mô có bốn lĩnh vực đóng vai trò trọng tâm và cũng là
bốn mục tiêu tổng quát: Đó là sản lợng cao, tạo nhiều công ăn việc làm, ổn định
mức giá thị trờng tự do và cân bằng cán cân ngoại thơng. Để đạt đợc các mục tiêu
đó, thực hiện chức năng của mình Nhà nớc có thể sử dụng nhiều công cụ chính sách
khác nhau. Mỗi chính sách lại có những công cụ riêng biệt. Dới đây là các công cụ
kinh tế vĩ mô chủ yếu
1.3.1. Chính sách tài khoá
Chính sách tài khoá nhằm điều chỉnh thu nhập và chi tiêu của Chính phủ để
hớng nền kinh tế vào một mức sản lợng và việc làm mong muốn. Chính sách tài
khoá có hai công cụ chủ yếu là chi tiêu của Chính phủ và thuế.
Chi tiêu của Chính phủ có ảnh hởng trực tiếp tới quy mô của chi tiêu, do đó
có thể trực tiếp tác động đến tổng cầu và sản lợng. Thuế làm giảm các khoản thu
nhập do đó làm giảm chi tiêu của khu vực t nhân, từ đó tác động đến tổng cầu và
sản lợng. Thuế cũng có thể tác động đến đầu t và sản lợng về mặt dài hạn.
Trong thời gian ngắn (1 đến 2 năm) chính sách tài khoá có tác động đến sản
lợng thực tế và lạm phát phù hợp với các mục tiêu ổn định kinh tế. Về mặt dài hạn
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 10
chính sách tài khoá có thể có tác dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, giúp cho sự tăng
trởng và phát triển lâu dài.
1.3.2. Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ nhằm chủ yếu tác động đến đầu t t nhân, hớng nền kinh tế
vào mức sản lợng và việc làm mong muốn. Vì chính sách tiền tệ chỉ có khả năng tác
động vào thị trờng tiền tệ, qua đó tác động đến tổng cầu và sản lợng nên việc kiểm
soát tiền tệ của Ngân hàng Trung ơng tập trung vào hai công cụ chủ yếu là lợng
cung về tiền và lãi suất. Khi Ngân hàng Trung ơng thay đổi lợng cung về tiền, lãi
suất sẽ tăng hoặc giảm, tác động đến đầu t t nhân, do vậy ảnh hởng đến tổng cầu và
sản lợng. Việc gia tăng cung tiền thực tế sẽ làm tăng sản lợng cân bằng và làm giảm
lãi suất cân bằng, và ngợc lại.
Chính sách tiền tệ có tác động quan trọng đến GNP thực tế về mặt ngắn hạn,
song do tác động đến đầu t nên nó cũng ảnh hởng lớn đến GNP tiềm năng về mặt
dài hạn.
Chính sách tiền tệ có thể đợc tiến hành độc lập với chính sách tài khoá. Khi
cần mở rộng sản xuất thì thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, khi chống lạm phát
cao hoặc kiềm chế nó thì thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ.
1.3.3. Chính sách thu nhập
Chính sách thu nhập gồm hàng loạt các biện pháp (công cụ) mà Chính phủ sử
dụng nhằm tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả để kiềm chế lạm phát.
Chính sách này sử dụng nhiều loại công cụ, từ các công cụ có tính chất cứng
rắn nh đông giá, đông lơng, những chỉ dẫn chung để ấn định tiền công và giá cả,
những quy tắc pháp lý ràng buộc sự thay đổi giá cả và tiền lơng đến những công
cụ mềm dẻo hơn nh việc hớng dẫn, khuyến khích bằng thuế thu nhập
1.3.4. Chính sách kinh tế đối ngoại
Chính sách kinh tế đối ngoại trong các nớc thị trờng mở là nhằm ổn định tỷ
giá hối đoái và giữ cho thâm hụt cán cân thanh toán ở mức có thể chấp nhận đợc.
Chính sách này bao gồm các biện pháp giữ cho thị trờng hối đoái cân bằng, các quy
định về hàng rào thuế quan bảo hộ mậu dịch và cả những biện pháp tài chính tiền tệ
khác nhằm tác động vào hoạt động xuất khẩu.
II - Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế
2.1. Khái niệm và đặc trng của chính sách tiền tệ
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 11
2.1.1. Khái niệm
Chính sách tiền tệ là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế
của Nhà nớc để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, nhằm ổn định giá
trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo
đảm quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống nhân dân.
Tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế, thể chế chính trị và giác độ nghiên cứu,
ngời ta phân biệt chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng và nghĩa thông thờng; chính
sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ơng và chính sách tiền tệ quốc gia.
Chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng là chính sách điều hành toàn bộ khối lợng
tiền trong nền kinh tế, nhằm phân bổ một cách hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên
để thực hiện các mục tiêu tăng trởng, cân đối kinh tế, trên cơ sở đó ổn định giá trị
đồng tiền quốc gia.
Chính sách tiền tệ theo nghĩa hẹp là chính sách đảm bảo sao cho khối lợng
tiền cung ứng tăng thêm trong một năm tơng ứng với mức tăng trởng kinh tế và chỉ
số lạm phát (nếu có) nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, góp phần thực hiện các
mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Chính sách tiền tệ quốc gia là tổng thể các biện pháp của Nhà nớc pháp
quyền nhằm cung ứng đầy đủ các phơng tiện thanh toán cho nền kinh tế phát triển,
trên cơ sở đó ổn định giá trị đồng tiền quốc gia.
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ơng (NHTW) là tổng thể tất cả các
biện pháp, công cụ mà NHTW sử dụng nhằm điều tiết khối lợng tiền tệ, tín dụng,
ổn định tiền tệ, góp phần đạt đợc các mục tiêu của các chính sách kinh tế.
Dù quan niệm theo nghĩa nào, chính sách tiền tệ đều nhằm mục tiêu ổn định
giá trị tiền tệ, góp phần thực hiện các mục tiêu của các chính sách kinh tế. ở những
nớc mà NHTW trực thuộc Chính phủ thì sự phân biệt chính sách tiền tệ của NHTW
và chính sách tiền tệ quốc gia không có ý nghĩa gì. Trong trờng hợp này chính sách
tiền tệ mà NHTW thực hiện là chính sách tiền tệ quốc gia.
Trong một khoảng thời gian, chính sách tiền tệ (CSTT) có thể đợc hoạch định
theo hai hớng:
Chính sách tiền tệ mở rộng: Theo hớng này, CSTT nhằm tăng lợng tiền cung
ứng lãi suất giảm khuyến khích đầu t mở rộng sản xuất, kinh doanh và tạo
việc làm cho ngời lao động. Trong trờng hợp này chính sách tiền tệ nhằm chống suy
thoái kinh tế và thất nghiệp.
Chính sách tiền tệ thắt chặt: Theo hớng này CSTT nhằm giảm lợng tiền cung
ứng lãi suất tăng hạn chế đầu t, kìm hãm sự tăng trởng và phát triển quá đà
của nền kinh tế. Trờng hợp này chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát và khắc
phục tình trạng quá nóng của nền kinh tế.
2.1.2. Đặc tr ng của chính sách tiền tệ
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 12
Qua khái niệm về chính sách tiền tệ, có thể rút ra một số đặc trng cơ bản sau:
Chính sách tiền tệ là một bộ phận hữu cơ cấu thành chính sách tài chính
quốc gia.
Trong tổng thể các chính sách kinh tế tài chính của một quốc gia, mỗi
chính sách đều có một vị trí và vai trò riêng. Trong đó, chính sách tiền tệ luôn đợc
coi là có vị trí trung tâm, gắn kết các chính sách lại với nhau. Ngời ta cho rằng, mức
đọ tiền tệ hoá cao hay thấp của một nền kinh tế phản ánh trình độ phát triển kinh tế
của nớc ấy. Do đó tiền tệ đã thâm nhập và trở thành một yếu tố hết sức quan trọng
trong mọi nền kinh tế. Chính vì vậy, chính sách tiền tệ phải là một bộ phận trung
tâm của chính sách kinh tế tài chính quốc gia.
Chính sách tiền tệ là công cụ thuộc tầm vĩ mô.
Để đạt đợc các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã đợc hoạch định, Chính phủ cần sử
dụng một hệ thống công cụ. Nếu xét riêng về chính sách kinh tế, có bốn chính sách
thông dụng đợc sử dụng: chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế
đối ngoại và chính sách thu nhập.
Chính sách tiền tệ đợc sử dụng để làm thay đổi lợng tiền cung ứng cho nền
kinh tế, từ đó tác động đến lãi suất, tác động đến đầu t, ảnh hởng đến sản xuất và lu
thông hàng hoá, và do vậy chính sách tiền tệ là một chính sách thuộc tầm vĩ mô.
NHTW là ngời đề ra và vận hành chính sách tiền tệ.
Do chính sách tiền tệ luôn hớng vào việc thay đổi lợng tiền cung ứng nên chủ
thể nào thực hiện chức năng phát hành tiền và điều hoà lu thông tiền tệ thì chính
chủ thể đó phải trực tiếp vạch ra và thực thi chính sách tiền tệ. Chủ thể đó không ai
khác ngoài NHTW.
Mục tiêu tổng quát của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền và góp
phần thực hiện một số mục tiêu kinh tế vĩ mô khác.
Bất kỳ một nền kinh tế nào, vai trò ổn định tiền tệ và nâng cao sức mua đồng
tiền trong nớc cũng luôn đợc coi là mục tiêu có tính chất dài hạn. Trên cơ sở thực
thi chính sách tiền tệ nhằm tác động đến lợng tiền cung ứng, từ đó tác động đến
hàng loạt các yếu tố khác nh lãi suất, lạm phát, đầu t, việc làm ổn định giá trị
đồng tiền là mục tiêu trọng tâm của chính sách tiền tệ. Có ổn định đợc tiền tệ thì
mới khuyến khích tiết kiệm, có tiết kiệm mới có đầu t, có đầu t mới có tăng trởng
kinh tế, giảm thất nghiệp
2.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Mỗi quốc gia đều có chính sách tiền tệ riêng phù hợp với nền kinh tế đặc thù
của mình, nhng các chính sách tiền tệ đều hớng vào những mục tiêu chủ yếu là
giống nhau. Tuỳ từng giai đoạn khác nhau và điều kiện thực tế của nền kinh tế để
lựa chọn mục tiêu trọng tâm. Các mục tiêu tổng quát của chính sách tiền tệ bao
gồm:
2.2.1. ổ n định giá trị đối nội của đồng tiền trên cơ sở kiểm soát lạm phát
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 13
Các nhà kinh tế đã cho rằng, lạm phát là căn bệnh kinh niên của nền sản suất
hàng hoá, đặc biệt là nền sản suất hàng hoá phát triển ở mức độ cao (nền kinh tế thị
trờng). Tuỳ theo quan niệm và góc độ nghiên cứu của mình, các nhà kinh tế học đã
đa ra những khái niệm riêng về lạm phát. Tuy nhiên nhìn chung có thể hiểu: Lạm
phát là sự gia tăng giá cả trung bình của hàng hoá theo thời gian.
Lạm phát tác động đến nền kinh tế xã hội theo cả hai hớng tích cực và
tiêu cực.
Khi lạm phát gia tăng, nó tác động đến mọi mặt của nền kinh tế xã hội,
làm sai lệch các chỉ tiêu kinh tế, làm phân phối lại thu nhập, kích thích tâm lý đầu
cơ tích trữ hàng hoá, bất động sản, vàng bạc gây tình trạng khan hiếm giả tạo,
giảm sức mua thực tế của dân chúng về hàng hoá tiêu dùng. Do đó đời sống của ng-
ời lao động sẽ khó khăn hơn rất nhiều , gây khó khăn hơn cho hoạt động của hệ
thống ngân hàng vì ngân hàng sẽ không thu hút đợc các nguồn tiền nhàn rỗi cho
hoạt động của mình.
Tuy nhiên bên cạnh những tác hại , trong chừng mực nào đó với một tỷ lệ
lạm phát vừa phải, lạm phát lại là yếu tố để kích thích kinh tế tăng trởng. Khi đó
lạm phát trở thành công cụ điều tiết. Các nhà kinh tế học còn gọi đó là liều thuốc bổ
cho tăng trởng kinh tế. Bởi lẽ lạm phát chính là việc đa một khối lợng tiền ra lu
thông. Trong nền kinh tế thị trờng, công việc đa tiền ra lu thông thờng thông qua
con đờng tín dụng. Khi bơm vốn vào nền kinh tế bằng con đờng tín dụng thì sẽ mở
mang các doanh nghiệp, tạo điều kiện đầu t chiều rộng và chiều sâu. Do đó sẽ thu
hút nhiều lao động, thất nghiệp giảm, kinh tế tăng trởng cao hơn trớc. Do vậy cần
chấp nhận sự tồn tại của lạm phát trong nền kinh tế để có những quyết sách kiềm
chế chứ không phải triệt tiêu nó. Vấn đề quan trọng là cần phải kiểm soát đợc lạm
phát, ổn định tiền tệ, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, đảm bảo đời sống cho
ngời lao động Tuy nhiên thực chất của việc kiểm soát lạm phát là chấp nhận sự
biến động với biên độ cho phép ( lạm phát dới một con số), trách nhiệm này thuộc
về chính sách tiền tệ của NHTW.
2.2.2. ổ n định giá trị đối ngoại của đồng tiền trên cơ sở cân bằng cán cân thanh
toán quốc tế và ổn định tỷ giá hối đoái.
Trong nền kinh tế mở, xu hớng toàn cầu hoá nền kinh tế tài chính thế giới
diễn ra rất nhanh và sâu sắc. Trớc tình hình đó, các nớc trên thế giới đều hớng về
các thị trờng tài chính quốc tế để theo dõi sự biến động cuả các đồng tiền chủ chốt
nhằm tránh các tác dụng tiêu cực thông qua hệ thống tỷ giá hối đoái. Do tính chất
tổng hợp, tỷ giá hối đoái ảnh hởng sâu sắc đến các hoạt động kinh tế của một nớc,
đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu.
Một tỷ giá hối đoái quá thấp (đồng bản tệ tăng giá so với đồng ngoại tệ) có
tác dụng khuyến khích nhập khẩu, gây bất lợi cho xuất khẩu vì lúc này hàng xuất
khẩu đắt lên, khó bán cho nớc ngoài. Do đó sẽ gất bất lợi cho những cuộc dịch
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 14
chuyển ngoại tệ từ nớc ngoài vào trong nớc. Khi đó khối lợng dự trữ ngoại hối quốc
gia dễ bị xói mòn.
Ngợc lại một tỷ giá hối đoái cao (đồng bản tệ giảm giá so với ngoại tệ) có tác
động bất lợi cho nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu vì hàng xuất khẩu rẻ đi sẽ làm
tăng khả năng cạnh tranh, dễ tìm đợc thị trờng hơn. Lu lợng ngoại tệ có khuynh h-
ớng chuyển vào trong nứơc khá hơn, khối lợng dự trữ ngoại tệ có cơ hội gia tăng.
Nhng khi nhập khẩu, hàng nhập khẩu lại đắt lên, gây khó khăn cho các doanh
nghiệp mà sự sản xuất phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập ngoại, và các doanh
nghiệp có ý định nhập khẩu máy móc thiết bị
Nh vậy một tỷ giá hối đoái cao hay thấp đều xuất hiện những tác động kép
tích cực và tiêu cực. Chính vì thế nhiệm vụ của NHTW là sử dụng những công cụ,
chính sách của mình để can thiệp, giữ cho tỷ giá hối đoái không biến động lớn,
tránh gây sự bất ổn định trong nền kinh tế, vừa nhằm khuyến khích xuất khẩu vừa
kiểm soát nhập khẩu.
2.2.3. Kích thích tăng tr ởng kinh tế
Với bất kỳ một chính sách tiền tệ nào, mục đích cao nhất là làm thế nào để
phát triển kinh tế, gia tăng sản lợng của nền kinh tế. Về đại thể, khi tỷ lệ tăng tổng
sản phẩm quốc nội lớn hơn nhịp độ tăng dân số thì sẽ có sự tăng trởng kinh tế. Việc
thay đổi khối lợng tiền tệ cung ứng sẽ tác động lớn đến nền kinh tế.
Tăng trởng kinh tế là mục tiêu vĩ mô của bất kỳ một quốc gia nào. Tuy nhiên
thực hiện mục tiêu này không có nghĩa là chỉ khuyến khích tăng trởng kinh tế, mà
còn thực hiện việc kìm hãm tốc độ tăng trởng của nền kinh tế nếu nền kinh tế phát
triển quá nóng (tốc độ tăng trởng kinh tế quá cao). Điều này có nghĩa là, mỗi quốc
gia phải xác định một tỷ lệ tăng trởng kinh tế dự kiến phù hợp với điều kiện nội tại
của nền kinh tế nớc đó. Trên cơ sở đó, căn cứ vào tốc độ tăng trởng kinh tế hiện tại
là thấp hay cao để sự điều tiết của chính sách tiền tệ sẽ hớng vào khuyến khích hay
kìm hãm tốc độ tăng trởng kinh tế.
Trờng hợp cần khuyến khích tăng trởng kinh tế, NHTW sẽ thực hiện chính
sách tiền tệ mở rộng nhằm tăng khối lợng tiền tệ, làm cho lãi suất giảm xuống, do
vậy sẽ kích thích đầu t, mở rộng sản xuất, tăng tổng sản phẩm quốc nội. Mặt khác,
tăng khối lợng tiền tệ sẽ làm tăng tổng cầu, sức mua hàng hoá trên thị trờng tăng
lên, hàng hoá tồn đọng của các doanh nghiệp tiêu thụ đợc, là tiền đề cho các doanh
nghiệp gia tăng sản xuất dẫn đến GDP tăng. Nếu mức gia tăng của GDP cao hơn
nhịp độ gia tăng dân số thì nền kinh tế sẽ thực sự có tăng trởng.
Trờng hợp cần kìm hãm tốc độ tăng trởng kinh tế, NHTW sẽ thực hiện chính
sách thắt chặt tiền tệ. Khi đó khối lợng tiền tệ trong lu thông giảm xuống thì lãi suất
có xu hớng tăng lên, đồng vốn đầu t đắt lên dẫn đến đầu t giảm, do đó tổng sản
phẩm quốc nội giảm xuống. Mặt khác khi giảm khối lợng tiền tệ sẽ làm giảm tổng
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét