Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Vai trò của kinh tế tư nhân.DOC

I - PHẦN MỞ ĐẦU
Đối với mọi quốc gia, khu vực kinh tế tư nhân có vai trò hết sức quá trình
trong phát triển kinh tế của đất nước. Đối với nước ta, mặc dù trong quá trình
phát triển trải qua nhiều thăng trầm song bước vào thời kỳ đổi mới kinh tế tư
nhân đã khẳng định là một bộ hận cấu thành, có vị trí quá trình lâu dài của nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Nền kinh tế của nước ta đang trong quá trình đổi mới mạnh mẽ để vươn
tới nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Trong sự đổi mới đó,
kinh tế Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo, nhưng đóng góp cho quá trình phát
triển đó có sự tham gia tích cực của kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân với các loại
hình đa dạng, hoạt động linh hoạt góp phần giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của
xã hội, trong đó nổi cộm là giải quyết việc làm cho người lao động mà kinh tế
Nhà nước chỉ giải quyết được hạn hẹp. Kinh tế tư nhân làm đa dạng hóa nền
kinh tế, đáp ứng các nhu cầu vốn rất lớn cả về phía người tiêu dùng lẫn chủ sở
hữu, tính đa dạng đó là ưu thế rất lớn để đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ đi lên
sản xuất hàng hóa lớn như nước ta. Kinh tế tư nhân vốn phạm vi hoạt động rộng
lớn trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải cần có sự
giúp đỡ, tạo điều kiện của Nhà nước. Nhận định vai trò của kinh tế tư nhân Nhà
nước đã đổi mới cơ chế chính sách để phát triển thành phàn kinh tế này. Trong
những năm gần đây, nhờ quan điểm đổi mới tích cực với cơ chế tác động rõ
ràng, dứt khoát đã thúc đẩy kinh tế tư nhân ngày càng phát triển.
Với những hiểu biết còn nhiều hạn chế, trong phạm vi đề tài cho phép em
rất mong nhận được sự giúp đỡ, chỉ dẫn của thầy cô giáo về những sai sót trong
quá trình làm bài.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
II - PHẦN THÂN BÀI
1. Định nghĩa kinh tế tư nhân và vai trò của kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất với lao động của bản thân người chủ sản xuất và lao động làm thuê hoặc
hoàn toàn thuê lao động, có các quy mô khác nhau về vốn, lao động, công nghệ
hoạt động dưới các hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh
nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp
doanh. Đây là những hình thức phổ biến, được phát triển mạnh mẽ trong những
năm vừa qua với các quy mô, mức độ khác nhau. Kinh tế tư nhân có ưu thế đặc
biệt khi sử dụng đa dạng hóa các hình thức kinh tế cụ thể trong quá trình phát
triển nền kinh tế vốn yếu kém đi lên kinh tế thị trường như nước ta. Nó không
chỉ đóng vai trò là một kênh quá trình để khơi dậy, huy động và khai thác nguồn
tiềm năng to lớn về vốn, sức lao động kinh nghiệm quản lý, trí tuệ và khả năng
kinh doanh, khai thác thông tin và các nguồn lực khác cho phát triển kinh tế
thích ứng với sự biến đổi linh hoạt của môi trường kinh doanh trong và ngoài
nước. Kinh tế tư nhân trực tiếp đóng vai trò quá trình về tạo thêm nhiều công ăn
việc làm cho xã hội, giải quyết thất nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải
thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, huy động ngày càng nhiều
nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
2
2. Tình hình phát triển kinh tế tư nhân.
Trong những năm vừa qua nhờ quá trình đổi mới kinh tế và thực hành dân
chủ hóa đời sống kinh tế - xã hội kinh tế tư nhân nước ta không ngừng mở rộng
phạm vi hoạt động, đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ năm
2000 cả nước có gần 2167,3 nghìn cơ sở kinh tế tư nhân tăng 130,7 nghìn cơ sở
so với năm 1996, trong đó 29548 doanh nghiệp tư nhân, tăng 9276 doanh nghiệp
và trên 2137,7 nghìn cơ sở cá thể (chưa kể nông, lâm, thủy sản) tăng 121,4
nghìn cơ sở. Tại thời điểm tháng 12 năm 2000 các cơ sở kinh tế tư nhân có
4643 lao động đang làm việc tăng 20,1% so với năm 1996 và có gần 173000 tỷ
đồng vốn đang dùng vào kinh doanh sản xuất (doanh nghiệp tư nhân 16.000 tỷ).
Do có quy mô hoạt động và tiềm lực như vậy nên hàng năm kinh tế tư nhân thu
hút thêm hàng vạn lao động (1996 thu hút thêm 3,1 vạn lao động, năm 2000
thêm 90.000 lao động) tạo ra khoảng 40% tổng sản phẩm trong nước và đóng
góp 6,4 nghìn tỷ). Những con số thống kê ở trên khẳng định kinh tế tư nhân ở
nước ta là một nguồn nội lực quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước. Kinh tế
tư nhân có sự tăng trưởng đáng kể về số lượng, phát triển rộng khắp trong cả
nước và trong các ngành cá thể đến năm 2000 là 9,8 triệu hộ với 20,1 triệu lao
động. Trong đó có 7,7 triệu hộ nông nghiệp ngoài HTX (với 16,3 triệu lao động)
và 2,1 triệu hộ kinh doanh phi nông nghiệp. Số hộ kinh doanh cá thể phân bố
rộng khắp trong các ngành nghề đặc biệt trong nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, ngư nghiệp. Trong công nghiệp với mô hình VAC, kinh tế trang trại góp
phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập đáng kể, các trang trại thu hút được
363.048 lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông, phá thế
độc canh, đặc biệt tạo ra mô hình cây công nghiệp, chuyên phục vụ cho xuất
khẩu. Trong tiểu thủ công nghiệp với ngành nghề truyền thống được khơi dậy
đặc biệt là ngành mây tre xuất khẩu, đồ gỗ mỹ nghệ - đã xuất khẩu đi nhiều
nước. Ngành nuôi trồng thủy sản với mô hình nuôi tôm của các hộ gia đình thực
sự tạo hiệu quả kinh tế cao phục vụ cho xuất khẩu. Nghị quyết Đại hội Đảng IX
đã khẳng định "Kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quá
3
trình lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển, khuyến khích các
hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc
phát triển lớn hơn". Ở khu vực thành thị, kinh tế cá thể thực sự đóng vai trò rất
quá trình, loại hình kinh doanh dịch vụ và sản xuất hàng hóa nhỏ rất phù hợp
với môi trường linh hoạt sôi động tạo thu nhập cho nhiều hộ gia đình. Nhà nước
tạo điều kiện bằng cách hỗ trợ vốn.
Về số lượng doanh nghiệp tư nhân cũng tăng rất nhanh, đặc biệt từ khi
thực hiện Luật doanh nghiệp. Tính từ đầu năm 2000 đến nay có trên 36.000
doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ được đăng ký, so với 6000 doanh nghiệp được
đăng ký trong hai năm trước đó. Trong đó có khoảng 92% thuộc lĩnh vực phi
nông nghiệp. Điều đáng chú ý là có gần 70% doanh nghiệp vừa và nhỏ mới đăng
ký là những tổ chức mới điều đó cho thấy số đầu tư mới là đáng kể. Dự đoán
trong vài năm tới các hoạt động của khu vực tư nhân còn tăng hơn nữa. Điều
này cho thấy lòng tin của các nhà đầu tư vào hệ thống chính thức đã được tăng
lên đáng kể.
Sự phát triển kinh tế tư nhân trực tiếp đóng vai trò quá trình về tạo nhiều
công ăn việc làm cho xã hội. Năm 2000, theo thống kê của cơ quan chuyên môn,
khu vực kinh tế tư nhân chiếm 56,3% tổng số lao động có việc làm thưỡnguyên
trong cả nước. Trong đó, lao động phi nông nghiệp chiếm 22%, lao động nông
nghiệp chiếm 78%, điều đáng chú ý là năm 1997 - 2000 khu vực này thu hút
thêm 977019 lao động gấp 6,6 lần so với khu vực kinh tế Nhà nước. Lao động ở
các hộ kinh doanh cá thể chiếm 81,9% riêng trong nông nghiệp, các trang trại
thu được 363048 lao động chiếm 2,22%. Lao động ở khu vực kinh tế tư nhân
chiếm tỷ trọng khá cao, đóng vai trò to lớn trong giải quyết việc làm nhưng tỷ
trọng trong nông nghiệp rất lớn điều đó chưa thực sự chuyển dịch cơ cấu việc
làm. Khả năng tạo thêm việc làm của khu vực Nhà nước có hạn nhất là về thu
hút số lượng lao động. Quy mô kinh doanh hợp pháp càng lớn càng được coi
trọng chính đó là con đường tạo cầu, tăng cầu về lao động. Lớp nhà kinh doanh
tạo cầu về lao động càng đông đảo, làm cho nhu cầu số lượng lao động ngày
càng lớn với cơ cấu và chất lượng ngày càng cao là trực tiếp mở rộng cơ hội để
4
mọi người lao động có thể tìm việc làm phù hợp, phấn đấu nâng cao trình độ và
tăng thu nhập. Các doanh nghiệp ngày càng mở rộng về số lượng chất lượng đòi
hỏi nhân lực có trình độ chuyên môn vững vàng. Tuy nhiên ở nước ta đã và còn
thực trạng rất đau lòng cho xã hội và đông đảo gia đình lao động do "cung về
lao động rất lớn, nhưng cầu chưa đủ mạnh" khiến quá nhiều người dân chưa có
cơ hội tìm việc làm, càng khó tìm việc làm phù hợp. Nạn thừa người thiếu việc
trước hết rơi vào lớp người đến tuổi ra trường, vào đời. Từ nhiều năm nay nghề
nông vẫn giữ tỷ trọng trên 60% lao động xã hội khiến đời sống nhà nông rất kho
cải thiện. Biết bao gia đình thu nhập trung bình và thấp chủ yếu là nông dân,
đang vét cạn vốn liếng đầu tư cho con em ăn học và tìm việc làm, ly nông. Hàng
triệu người lao động, nam và nữ đã tự phát dấn thân vào cuộc di cư và du cư tìm
kế sinh nhai, chấp nhận mọi khó khăn để tìm việc làm có thu nhập. Mọi tầnglớp
thuộc độ tuổi lao động đều cố gắng để tìm được một việc làm, có việc làm hợp
pháp ổn định đã là sự đổi đời. Thực tế đó chứng tỏ người lao động nước ta rất
năng động cần cù, nhẫn nại. Đồng thời cũng nói lên chính sách và môi trường xã
hội chưa đủ sức tăng cầu lao động với tốc độ cao và hợp lý. Hiện nay do rất
thiếu khả năng, nên Hiến pháp chưa thể đặt nhiệm vụ Nhà nước và xã hội bảo
đảm quyền có việc làm của công dân, càng chưa thế bảo hiểm thất nghiệp với
mọi người lao động. Gánh nặng này đang buộc các gia đình tự lo. Chiến lược
phát triển kinh tế xã hội năm 2000 - 2010 được Đại hội IX thông qua mỗi năm
cần tạo ra trên 1 triệu việc làm mới cho số lao động mới tăng thêm, chưa kể việc
giảm thất nghiệp. Hơn nữa còn có nhu cầu rất bức bách rút bớt lao động từ nông
nghiệp sang các lĩnh vực ngoài nông nghiệp - trong 10 năm tới phải phấn đầu rút
trên 10 triệu lao động chỉ như vậy đời sống nông dân mới có thể cải thiện.
Chính trên con đường đó, nước ta càng sớm càng tốt phải đi tới trình độ
phát triển đến mức cầu lao động lớn hơn cung, tức là khan hiếm lao động nhất là
lao động với chất lượng cao. Chỉ đến lúc ấy, thu nhập lao động mới chắc chắn
đạt mức cao, thất nghiệp được bảo hiểm trên toàn xã hội. Như vậy, phát triển
mạnh mẽ nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng chính sách
của Đảng và pháp luật Nhà nước là con đường xây dựng và toàn dụng lao động
5
với trình độ và chất lượng ngày càng cao nhằm mưu cầu tự do, hạnh phúc và
phát triển toàn diện con người và cộng đồng lao động.
Sự phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã thực sự góp phần vào việc
xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, huy
động ngày càng nhiều nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Chỉ tính riêng năm 2000 vốn đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp khu vực
này tăng hơn 4,5 lần so với năm 1996, đạt mức 13831 tỷ đồng, vốn đầu tư phát
triển kinh tế tư nhân tăng 13% so với năm 1999, chiếm một tỷ trọng đáng kể
trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội. Kinh tế tư nhân đầu tư cổ phần hóa.
Trên bình diện chung toàn xã hội, sự phát triển kinh tế tư nhân những năm vừa
qua đã trực tiếp góp phần vào việc tăng ngân sách Nhà nước, đóng góp đáng kể
vào sự gia tăng GDP toàn xã hội chiếm 42,26% GDP toàn xã hội. Trong đó, hộ
kinh doanh chiếm 34,8%, hộ nông dân ngoài HTX là 15,08%, hộ kinh doanh cá
thể phi nông nghiệp là 19,72%. Kinh tế tư nhân đóng góp tới 16,9% tổng thu
ngân sách. Hàng năm kinh tế tư nhân thu hút thêm hàng vạn lao động (1996 thu
hút thêm 3,1 vạn lao động, 2000 thêm 9 vạn lao động) tạo ra khoảng 40% tổng
sản phẩm trong nước và đóng góp vào ngân sách Nhà nước trê dưới 6000 tỷ
điìng. Xét một cách cụ thể, không kể các lao động làm việc tại các doanh nghiệp
Công ty có vốn lớn thì lao động ở các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất nhỏ đã có
thu nhập nhất định ổn định đời sống, thu nhập của họ có khi chủ yếu từ các
nguồn đó mà đây là chiếm bộ phận khá lớn, giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo đói
dai dẳng, đó là tín hiệu đáng khích lệ của khu vực kinh tế này. Việc xóa đói
giảm nghèo ở nước ta đã thực hiện rất thành công ở các vùng nông thôn, trung
du, miền núi, đây là bộ phận dân cư chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ nghèo đói trước đây
khá lớn nhưng hiện nay đã giảm nhiều đạt được nhờ chính sách đúng đắn của
Nhà nước với các mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện của nhân dân như cho
vay vốn, hỗ trợ kỹ thuật phương hướng, điều đó đã mở ra một cuộc sống tuy
chưa đầy đủ nhưng là tín hiệu đáng mừng cho nhiều hộ gia đình đối với vùng
ven biển khuyến khích nuôi trồng thủy sản.
6
Kinh tế tư nhân góp phần quá trình vào thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, nâng cao cạnh tranh của nền kinh tế, tăng quy mô của kim ngạch xuất khẩu.
Với đặc điểm và ưu thế riêng của mình, sự phát triển kinh tế tư nhân trực tiếp
khơi dậy nhiều ngành nghề truyền thống trong các ngành, vùng ở các địa
phương tạo ra nhiều chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú và cung cấp nhiều
hơn hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu. Các ngành nghề truyền thống là thủ công
mỹ nghệ đồ gỗ, đồ gốm sứ, mây tre đan, tranh sơn mài đã tạo được tiếng vang
trên trường quốc tế. Chỉ tính riêng năm 2000 con số thống kê của tổng cục hải
quan, kim ngạch xuật nhập khẩu trực tiếp của khu vực, phi nông nghiệp trong
kinh tế tư nhân đã tăng khá. Thông qua việc mở rộng sản xuất, nâng cao sức
cạnh tranh của từng doanh nghiệp ở khu vực này, trong điều kiện nền kinh tế đất
nước ngày càng tham gia đầy đủ hơn vào quá trình hội nhập với khu vực và thế
giới, giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra mạnh mẽ hơn. quá trình
hội nhập tác động rất lớn vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm tăng các ngành có
hàm lượng kỹ thuật cao, đặc biệt ngành công nghệ thông tin, ngành công nghệ
sinh học trong tương lai sẽ rất phát triển, các ngành phục vụ cho xuất khẩu cũng
tăng mạnh, các Công ty tư nhân hoàn toàn với nước ngoài có xu hướng tăng.
Những ngành sản phẩm có khả năng cạnh tranh khai thác được lợi thế so sánh ở
các vùng, miền được chú trọng phát triển, nhờ đó khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế nói chung cũng được nâng lên, các nguồn lực đầu tư cho phát triển được
khai thác có hiệu quả hơn. Vùng đồng bằng sông Cửu Long ngoài lợi thế trồng
lúa còn phát triển trồng cây ăn trái có giá trị trong nước và xuất khẩu, riêng vùng
ven biển ngập mặn còn phát triển nuôi trồng thủy sản, vùng trồng cây ăn quả đặc
sản như vải, mận được khai thác ở khu vực thành phố lớn các cơ sở sản xuất
các mặt hàng truyền thống tạo ra các sản phẩm đặc trưng chất lượng cao. Từ đó
xuất hiện các cơ sở kinh doanh điển hình làm ăn giỏi, đời sống người lao động
ngày càng được nâng lên, giải quyết nhiều chỗ làm cho xã hội.
3. Phương hướng hoàn thiện cơ chế chính sách đối với kinh tế tư
nhân.
7
Nhà nước xúc tiến mạnh mẽ quá trình lập pháp tạo cơ sở pháp lý cho sự
phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần và kinh tế tư nhân nói riêng.
Năm 1990 Ban hành Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân. Hiến
pháp 1992 khẳng định vai trò hợp hiến của kinh tế tư nhân. Sau Đại hội VI đã có
nhiều Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và văn bản của Nhà nước về phát triển kinh
tế ngoài quốc doanh phi nông nghiệp. Điều 22 ghi rõ "Các cơ sở sản xuất kinh
doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với
Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà
nước bảo hộ".
Trong 10 năm vừa qua đã liên tục ban hành và hoàn thiện hệ thống luật
dân sự, luật kinh tế và kinh doanh. Năm 2000 ban hành luật doanh nghiệp. Đạo
luật này đi vào cuộc sống rất nhanh, tạo ra bước phát triển đột biến của kinh tế
tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân từ năm 2000 đến nay. Như vậy, trên
thực tế quá trình đổi mới Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo thúc đẩy một lĩnh vực hệ
trọng nhất trong lãnh đạo và quản lý kinh tế. Lĩnh vực thể chế hóa, đổi mới tạo
lập và hoàn thiện cơ sở hợp hiến pháp cho hoạt động của các thành phần kinh tế
và loại hình doanh nghiệp, thể chế hóa như vậy là chức năng, là hoạt động thực
tiễn cơ bản nhất của cơ quan lãnh đạo quản lý kinh tế, là việc đưa chính sách của
Đảng vào cuộc sống. Hệ thống pháp luật mới được ban hành và liên tục hoàn
thiện đã cổ vũ và bảo đảm pháp lý để mọi người kinh doanh tư nhân ngày càng
yên tâm phát triển. Đáng chú ý các năm sau Đại hội VIII, đã liên tục có diễn đàn
hoàn toàn đối thoại giữa lãnh đạo và cơ quan Nhà nước hữu quan với giới kinh
doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, mà chủ đề luôn luôn là xây dựng và thực
thi thể chế kinh tế và kinh doanh. Nhờ thành quả ban hành và thực thi thể chế
như vậy, mới có thể có bước phát triển liên tục của kinh tế tư nhân mấy chục
năm vừa qua và bước phát triển đột biến từ năm 2000 đến nay.
Đại hội IX, về mặt phát triển kinh tế tư nhân đã đạt được mới về hoàn
thiện chính sách khẳng định cơ cấu kinh tế thị trường nhiều thành phần định
hướng XHCN trong đó kinh tế tư nhân là bộ phận quá trình xác định quan hệ
hoàn toàn và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, cùng nhau đi lên CNXH dưới sự
8
lãnh đạo của Đảng. Hội nghị lần thứ V của BCHTƯ, trong nghị quyết về kinh tế
tư nhân, xác định hai điều rất quá trình. "Xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa người
sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở pháp luật và tinh thần tương thân
tương ái" và "những đảng viên đang làm chủ doanh nghiệp của tư nhân, chấp
hành tốt Điều lệ Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước thì vẫn là Đảng
viên của Đảng".
Nhìn tổng quát lại, có thể thấy rõ trong cuộc đổi mới ở nước ta nói chung
và nói riêng trong bước mở đường và phát triển kinh tế tư nhân đã diễn ra cuộc
tìm tòi đổi mới mang tính nhân dân, tính xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng và sự
quản lý của Nhà nước có vai trò mở đường, khuyến khích, định hướng và điều
tiết rất rõ.
Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã khẳng định: "Kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở
nông thôn và thành thị có vị trí quá trình lâu dài, khuyến khích các hình thức tổ
chức hoàn toàn tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn
hơn. khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề
sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận
lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định
hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài". Quán triệt quan điểm
nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Hội nghị Trung Ương lần thứ V khóa IX đã
đánh giá tình hình và quyết định phương hướng, giải pháp nhằm tạo điều kiện
thuận lợi, hỗ trợ kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn, không hạn chế sự phát
triển kinh tế tư nhân ở những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, đồng
thời hướng dẫn, quản lý hoạt động của kinh tế tư nhân đảm bảo định hướng
XHCN của nền kinh tế. Như vậy, Nhà nước đã ban hành các chính sách luật
pháp, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, khuyến khích phát triển, đó là những
ưu tiên nhằm giúp các doanh nghiệp tư nhân có nền tảng vững chắc, có niềm tin
để hoạt động, sự hỗ trợ đó thực sự đã là đòn bẩy có tác động to lớn đến sự phát
triển của khu vực kinh tế này đã là đòn bẩy có tác động to lớn đến sự phát triển
của khu vực kinh tế này đã có những cơ sở pháp lý rõ ràng.
9
Để nhân dân yên tâm bỏ vốn xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh mới
hoặc mở rộng quy mô cơ sở hiện có, Nhà nước phải cụ thể hóa đường lối chính
sách bằng các văn bản pháp quy như luật kinh doanh, luật kinh tế, luật chuyển
nhượng, luật thuế mướn lao động đồng thời phải hoàn thiện chế độ đăng ký
kinh doanh, chế độ kế toán, thống kê, thuế, hợp đồng kinh tế, phải giải quyết
thỏa đáng quan hệ 3 lợi ích Nhà nước - chủ doanh nghiệp - người lao động. Nhà
nước phải có giải pháp hỗ trợ khu vực kinh tế này trong đào tạo chủ doanh
nghiệp cũng như phổ cập nghề, nâng cao tay nghề cho người lao động. Vì đây là
một trong những điểm yếu của khu vực kinh tế này ở nước ta.
Nhà nước điều tiết mối quan hệ kinh tế và giai cấp xã hội. Luật pháp bảo
vệ quyền lợi hợp lý của người sử dụng nhân công và người làm công ăn lương
trong kinh tế tư nhân. Đảng và Nhà nước phát huy vai trò định hướng và điều
tiết các mối quan hệ kinh tế và giai cấp xã hội, thông qua chính sách và luật
pháp, Nhà nước thực thi chính sách đó. Đương nhiên mối quan hệ giữa người sử
dụng lao động làm công ăn lương cũng được định hướng và điều tiết như vậy.
Đảng và Nhà nước xuất phát từ thực tế, đã đề ra và liên tục hoàn thiện chính
sách và luật pháp. Từ đó nâng cao hiệu lực định hướng và điều tiết. Đại hội lần
thứ IX của Đảng khẳng định: "Tiếp tục nhất quan sự phát triển nền kinh tế thị
trường nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật là
bộ phận cấu thành quá trình của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng
phát triển lâu dài, hoàn toàn và cạnh tranh lành mạnh". Sự khẳng định của Đại
hội như vậy không phải là mong muốn chủ quan mà là kết quả tổng kết thực tế.
Thật vậy, trên đất nước ta trong bước phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nói
chung và kinh tế tư nhân nói riêng, mối quan hệ giữa người kinh doanh sử dụng
nhiều lao động vốn hàng triệu người lao động làm công ăn lương đâu còn là
quan hệ giữa người có quyền áp bức bóc lột với người bị áp bức bóc lột như ở
xã hội cũ. Những năm vừa qua việc thực hiện quy định: "Đảng viên có lao động,
không bóc lột" đã rất lúng túng về việc xử lý Đảng viên. Đồng thời gây ra sự
nghi ngại của giới kinh doanh tư nhân với chính sách khuyến khích phát triển.
Xuất phát từ quan điểm cơ bản của Đại hội IX đã đẩy tới một bước sự nhất quán
10
của chính sách trên hai điều rất quan trọng: "Bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính
đáng của cả người lao động và và người sử dụng lao động, xây dựng mối quan
hệ tốt đẹp giữa người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở pháp luật
và tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái". Những quyết định đó của Đảng và
Nhà nước nhanh chóng đi vào cuộc sống, được các doanh nghiệp hưởng ứng,
việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người chủ và nhân viên với tinh thần
đoàn kết đã tạo tâm lý thoải mái tự tin cho người lao động, tạo động lực nâng
cao hiệu quả công việc, không chỉ về lợi ích kinh tế mà còn về lợi ích xã hội như
đảm bảo cho người lao động có được một tinh thần tốt, giảm căng thẳng giúp họ
sống một cuộc sống lành mạnh chính vì vậy tạo ra sự tăng đột biến về số
lượng doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh trong khu vực tư nhân năm 2000, đến
nay vẫn trên đà phát triển mạnh, xét riêng về quan hệ giữa người sử dụng nhiều
nhân công và người làm công ăn lương trong khu vực kinh tế tư nhân, luật pháp
bảo vệ quyền hợp lý của cả hai phía. Trên thực tế xây dựng văn bản pháp luật và
thực thi trong cuộc sống đã có tình hình không cần, không thể và chưa bao giờ
trực tiếp đặt ra việc xây dựng văn bản xác định tầng lớp nào, người kinh doanh
cụ thể nào, với quy mô và hình thức kinh doanh nào là thuộc loại có "bóc lột".
Đã không cần và không thể đặt ra việc ban hành tiêu chuẩn phân định thành
phần tiểu thủ, tư bản tư nhân trong khi đó, Luật doanh nghiệp 2000 với việc áp
dụng chế độ đăng ký kinh doanh thay cho chế độ xin phép, đã khiến đông đảo
người kinh doanh càng vững tin, rất hăng hái tự đăng ký, tự xưng danh trước
pháp luật và công chúng như một sự tăng đột biến bùng nổ được xã hội mong
đợi. Không đặt ra việc xem xét xác định và xử lý "quan hệ bóc lột" xong Nhà
nước và pháp luật từ lâu nay đã hoàn toàn cần và thực tế phải thực thi cơ chế
giám sát xử lý hoạt động kinh doanh nói chung và quan hệ lao động nói riêng
về tính hợp pháp hay phi pháp.
Chính nền pháp chế mới đang hình thành và hoàn thiện từng bước, là
công cụ định hướng tạo lập quan hệ mới, tạo khả năng đẩy lùi, loại trừ các nhân
tố tiêu cực. Luật pháp như vậy đã đặt biển cấm sự xuất hiện tầng lớp người có
độc quyền bóc lột cũng như tầng lớp cam chịu bóc lột. Nhìn rộng hơn, mọi
11
doanh nghiệp còn liên tục chịu sự giám sát, không chỉ của Nhà nước mà còn của
người lao động, của toàn xã hội các tổ chức chính trị xã hội và dân sự. Sự giám
sát như vậy, không dừng ở tính hợp pháp hay phi pháp mà còn ở sự bình luận,
phán xét theo các chuẩn mực văn hóa và tinh thần, theo thuần phong mỹ tục
Như vậy, sự điều tiết, định hướng giám sát các quan hệ kinh tế và quan hẹe lao
động nói riêng còn là sự giám sát có tính văn hóa xã hội.
Nhà nước đã và đang xây dựng và thực thi hệ thống luật kinh tế và kinh
doanh nhằm thực thi chính sách của Đảng, khuyến khích người dân mở mang
kinh doanh hợp pháp, theo mục tiêu định hướng XHCN. Yêu cầu cơ bản nhất
đối với mọi người làm ăn và kinh doanh là "tuân theo pháp luật" trong đó có
Luật lao động. Đây không chỉ là yêu cầu cơ bản mà còn là yêu cầu rất cao đang
có yêu cầu tất yếu đi tới một hệ thống luật kinh doanh và lao động cơ bản thống
nhất cho một loại hình doanh nghiệp.
Nhà nước ưu tiên chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phiếu cho
người lao động, liên kết với nhau.
Để thực hiện cụ thể cơ chế chính sách Nhà nước có những giải pháp tài
chính đối với sự phát triển kinh tế tư nhân. Một là sửa đổi luật khuyến khích đầu
tư trong nước (1998) thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư cho một số ngành nghề,
lĩnh vực, địa bàn đầu tư kể cả việc đầu tư ra nước ngoài, không phân biệt các
thành phần kinh tế. Hai là, Nhà nước cũng cho phép các loại hình doanh nghiệp
tư nhân hoạt động theo Luật doanh nghiệp có quyền tham gia hợp tác, liên
doanh với các Công ty nước ngoài tại việt nam.
Đồng thời cũng cho phép người Việt Nam ở nước ngoài người nước ngoài
thường trú ở Việt Nam được góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp việt
nam với mức không quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp. Ba là, Nhà nước
quy định thủ tục đăng ký kinh doanh đơn giản hơn trước cho các doanh nghiệp
mới thành lập, bãi bỏ khoảng 160 giấy phép kinh doanh các loại, nhiều ngành
nghề không còn quy định mức vốn pháp định. Bốn là, Nhà nước đã có những
giải pháp tháo gỡ từng bước các khó khăn, vướng mắc về thủ tục đầu tư khi vay
vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước, có chính sách khuyến khích phát triển ngành
12
nghề nông thôn, khuyến khích và bảo hộ kinh tế trang trại, phát triển giống thủy
sản hệ thống ngân hàng đã có những cố gắng tháo gỡ các rào cản trong việc cho
vay đối với khu vực kinh tế tư nhân, không có sự phân biệt thành phần kinh tế
các nhà đầu tư được Nhà nước giao đất có trả tiền sử dụng đất được hưởng ưu
đãi về quyền sử dụng đất dưới các hình thức, giảm 50% số tiền phải nộp tùy
từng trường hợp, miễn nộp, tiền sử dụng đất, thuế đất, thuê sử dụng đất đến 15
năm. Nhà nước thực hiện góp vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các
thành phần kinh tế thông qua các DNNN hoặc tổ chức tín dụng Nhà nước. Nếu
dự án của doanh nghiệp có tính khả thi, các quỹ tài chính như quỹ hỗ trợ phát
triển, quỹ bảo lãnh tín dụng sẽ cho doanh nghiệp vay vốn lãi suất ưu đãi. Nhà
nước thành lập các quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ bảo lãnh xuất khẩu quỹ hỗ trợ hoặc
khen thưởng xuất khẩu. Các quỹ này bảo lãnh cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc
tiến hành bảo lãnh tiền vay cho các đối tượng ưu tiên. Nhà nước khuyến khích
các ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệp vay. Các ngân hàng thương
mại thực hiện cơ chế cho vay theo lãi suất thỏa thuận đã xóa bỏ hoàn toàn sự
phân biệt giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, tuân thủ quy luật
quan hệ cung cầu trên thị trường. Trong chính sách thuế, không có sự phân biệt
đối với các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế cùng với việc ban hành
các luật thuế mới, ngành thuế đã có nhiều cải cách hành chính, giảm phiền hà,
tạo điều kiện cho các tổ chức và cá nhân kinh doanh trong việc thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế. Việc ưu đãi trong thuế thu nhập chỉ áp dụng đối với các nhà đầu tư
trong các lĩnh vực được ưu đãi.
Từ đó có các phương hướng hoàn thiện các giải pháp tài chính thúc đẩy
phát triển kinh tế tư nhân. Với tư tưởng chỉ đạo của Nhà nước: khuyến khích tối
đa, không hạn chế sự phát triển rộng rãi của kinh tế tư nhân trong các ngành,
lĩnh vực mà pháp luật không cấm, Nhà nước định hướng, tạo điều kiện thuận lợi,
hỗ trợ phát triển và quản lý đối với kinh tế tư nhân theo quy định của pháp luật,
bình đẳng đối với mọi thành phần kinh tế. Phương hướng và giải pháp tài chính
là: Thứ nhất, các giải pháp tài chính thúc đẩy phải là một bộ phận cấu thành
trong hệ thống các giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Để phát triển
13
kinh tế tư nhân phải sử dụng tổng hợp các giải pháp kinh tế, hành chính và giáo
dục. Vì vậy việc xây dựng hoàn thiện và thực hiện các giải pháp tài chính phải
đặt trong tổng thể các giải pháp, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa chúng để đảm
bảo mục tiêu chung là phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực
kinh tế tư nhân. Hai là, chính sách và các giải pháp tài chính phải nhằm tháo gỡ
các khó khăn, vướng mắc, các rào cản hạn chế sự phát triển của kinh tế tư nhân
vận động, phát triển theo định hướng kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Trước mắt các cơ chế chính sách và giải pháp tài chính phải tập chung tháo gỡ
các khó khăn về vốn về tạo mặt bằng cho sản xuất kinh doanh, về hỗ trợ phát
triển khoa học công nghệ, thông tin, xúc tiến thương mại, về tạo lập môi trường
pháp luật và tâm lý xã hội thuận lợi, thông thaóng cho kinh tế Nhà nước phát
triển. Ba là, các chính sách giải pháp tài chính phải đảm bảo tính nhất quán và
ổn định trong một thời gian nhất định, đồng thời từng bước tiến đến sự bình
đẳng, thống nhất giữa các thành phần kinh tế.
Nhà nước đã thực hiện các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển kinh tế
tư nhân. Đầu tiên là các giải pháp về vốn, tín dụng, để tạo các điều kiện thuận
lợi cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân giải quyết các khó
khăn về vốn, cần thực hiện một số giải pháp xóa bỏ tình trạng đối xử không bình
đẳng trên thực tế trong vay vốn giữa các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế
tư nhân và các DNNN. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực của các doanh nghiệp và ngân
hàng thương mại sao cho nó có sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa để giải quyết vướng
mắc trên. Đối với các doanh nghiệp một mặt phải tìm mọi biện pháp nâng cao
hiệu quả kinh doanh và năng lực tài chính, đáp ứng ở mức cao nhất các yêu cầu
về tài sản thế chấp khi vay vốn để đảm bảo nguyên tắc tín dụng. Mặt khác, phải
chủ động xây dựng được các dự án, kế hoạch kinh doanh khả thi vì điều này
quyết định sự thành công của doanh nghiệp và bảo toàn được vốn đối với bên
cho vay. Các doanh nghiệp phải tạo được uy tín của mình bằng chính khả năng
cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp trên thị trường, bằng tính minh bạch của
sổ sách kế toán, đối với các ngân hàng thương mại cần thực sự coi khách hàng,
trong đó các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân là đối tượng phục
14

xây dựng và phát triển thương hiệu vngas cho công ty shinpetrol

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KINH TE THÀNH PHO HO CH MINHÁ Á À Í
TRẦN HÀ TRIÊU BÌNH
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU “VNGAS” CHO CÔNG
TY SHINPETROL
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 5.02.05
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG NGỌC ĐẠI
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2004
MỤC LỤC
Mục lục
Danh mục các bảng biểu, hình
LỜI MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục tiêu của đề tài 2
3. Phương pháp nghiên cứu 2
4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài 3
5. Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lý luận chung về thương hiệu 4
1.1.1 Khái niệm về thương hiệu 4

1.1.2 Thành phần của thương hiệu 4
1.1.2.1 Thành phần chức năng 4
1.1.2.2 Thành phần cảm tính hay cảm xúc 5
1.1.3 Một số thuật ngữ về thương hiệu 5
1.1.3.1 Giá trị thương hiệu 5
1.1.3.2 Bản sắc thương hiệu 6
1.1.3.3 Chất lượng cảm nhận 7
1.2 Xây dựng thương hiệu 7
1.2.1 Một số điều kiện cơ bản xây dựng thương hiệu 7
1.2.2 Mơ hình xây dựng thương hiệu 8
1.2.3 Nghiên cứu thị trường mục tiêu 9
1.2.3.1 Nghiên cứu sơ bộ thị trường 9
1.2.3.2 Thị trường mục tiêu 10
1.2.4 Định vị thương hiệu 11
1.3 Những yếu tố cần chú ý trong xây thương hiệu 12
1.3.1 Thiết kế thương hiệu 12
1.3.2 Tổ chức nội bộ và hỗ trợ cho việc quản trị thương hiệu 13
1.3.3 Tính cách và hình ảnh thương hiệu 13
1.3.4 Chất lượng hàng hố 14
1.4 Q trình phát triển thương hiệu 14
1.4.1 Những tiêu chuẩn để tạo ra thương hiệu mạnh 14
1.4.2 Q trình quản lý thương hiệu 15
1.4.3 Chiến lược tiếp thị hỗn hợp cho phát triển thương hiệu 16
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU LPG
TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
2.1 Q trình xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam 17
2.1.1 Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về thương hiệu 17
2.1.2 Khó khăn trong xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam
18
2.2 Tổng quan về sản xuất, tiêu dùng LPG trên thế giới và tại Việt Nam 19
2.2.1 Sản xuất và tiêu dùng LPG ở các nước khu vực và thế giới 19
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu dùng LPG tại thị trường Việt Nam 20
2.2.2.1 Tiêu dùng LPG tại Việt Nam 20
2.2.2.2 Khả năng sản xuất LPG của Việt Nam 21
2.2.2.3 Các cơng ty kinh doanh LPG tham gia vào thị trường Việt
Nam 22
2.3 Thực trạng xây dựng thương hiệu LPG tại thị trường Việt Nam 23
2.3.1 Các logo thương hiệu LPG 24
2.3.2 Việc bảo hộ của các thương hiệu LPG 25
2.3.3 Đầu tư cho quảng bá thương hiệu LPG 26
2.3.4 Định vị của các thương hiệu LPG 27
2.4 Khả năng kinh doanh và xây dựng thành cơng một thương hiệu LPG để
xâm nhập thị trường của cơng ty Shinpetrol 29
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM PHÁT
TRIỂN THƯƠNG HIỆU ‘VN GAS’ CỦA CƠNG TY SHINPETROL
3.1 Xây dựng thương hiệu ‘VNGAS’ của cơng ty Shinpetrol 31
3.1.1 Thị trường mục tiêu 31
3.1.2 Lựa chọn tên thương hiệu ‘VNGAS’ 32
3.1.3 Mơ hình xây dựng thương hiệu VNGAS 35
3.1.4 Các thành phần thương hiệu VNGAS 35
3.1.4.1 Sản phẩm Gas bình VNGAS 35
3.1.4.2 Xây dựng định vị thương hiệu VNGAS 36
3.1.4.3 Xây dựng bản sắc thương hiệu VNGAS 38
3.1.4.4 Đăng ký bản quyền thương hiệu VNGAS 40
3.2 Phát triển thương hiệu VNGAS 40
3.2.1 Chiến lược sản phẩm 40
3.2.2 Chiến lược giá 42
3.2.3 Quảng bá thương hiệu VNGAS rộng khắp các kênh phân phối 44
3.2.4 Chiến lược truyền thơng tiếp thị thương hiệu VNGAS 45
3.3 Duy trì bản sắc thương hiệu VNGAS 51
3.3.1 Kéo dài chu kỳ sống của thương hiệu VNGAS 51
3.3.2 Quản lý thương hiệu VNGAS chặt chẽ 52
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU
I. HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ xây dựng và phát triển thương hiệu VN Gas 35
Hình 3.2 Xây dựng nhân cách thương hiệu 46
II. BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam về thương hiệu 17
Bảng 2.2 Khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng thương hiệu 18
Bảng 2.3 Năng lực sản xuất, tiêu dùng LPG của một số nước trên thế giới 19
Bảng 2.4 Nhu cầu LPG của Việt Nam qua các năm 20
Bảng 2.5 Năng lực kho cảng một số cơng ty kinh doanh Gas tại Việt Nam 22
Bảng 2.6 Năng lực sản xuất LPG của các cơng ty Gas lớn tại thị trường phía nam 23
Bảng 2.7 Đánh giá mức độ nhận thức thương hiệu LPG của người tiêu dùng 24
Bảng 2.8 Dự báo sản lượng chiết nạp và kinh doanh cho Shinpetrol 30
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định của người tiêu dùng LPG 37
Bảng 3.2 Chi phí quảng cáo cho chiến dịch giới thiệu thương hiệu VNGAS
46
LỜI MỞ ĐẦU
3. Lý do chọn đề tài
Xây dựng, phát triển và duy trì giá trị thương hiệu đã được các doanh nghiệp trên
thế giới quan tâm nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỷ 20. Thương hiệu là một tài
sản hết sức to lớn của doanh nghiệp, nó đem lại sự ổn định, phát triển thị phần, nâng cao
năng lực cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp trong mơi trường cạnh tranh ngày
càng khắc nghiệt.
Hiện nay, hội nhập với nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà
nước của Việt Nam đã bắt đầu có sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề xây dựng và phát
triển thương hiệu. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã ý thức được rằng ngồi việc nỗ lực
cải tiến chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản phẩm thì vấn đề tên thương hiệu sản
phẩm, quy cách bao bì, logo - các thành phần của thương hiệu - nếu được thiết kế hợp
lý, phù hợp với tâm lý người tiêu dùng thì khả năng cạnh tranh của sản phẩm càng được
nâng cao.
Xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm Gas hố lỏng (LPG) cũng có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng khi thị trường LPG tại Việt Nam đang phát triển nhanh chóng
với tốc độ tăng trưởng rất cao trong thập niên qua và tiềm năng thị trường vẫn còn rất
lớn.
Cơng ty Shinpetrol với kinh nghiệm của nhà vận tải và kinh doanh gas rời trên
thương trường cộng với tiềm năng về cơ sở hạ tầng trên các vùng trọng điểm của đất
nước thì việc đầu tư cho kinh doanh Gas hố lỏng bước đầu sẽ có nhiều thuận lợi trong
việc phát triển thị phần.
Tuy nhiên, khi khởi đầu kinh doanh LPG trong mơi trường cạnh tranh với các tên
thương hiệu đã xuất hiện khá lâu như Saigon Petro, Petrolimex Gas, Elf Gas, Petro
Vietnam Gas … chắc chắn Shipetrol sẽ gặp khơng ít khó khăn để thâm nhập và phát
triển thị trường. Cơng ty cần phải xây dựng một thương hiệu sản phẩm LPG độc đáo
mang đậm bản sắc của riêng mình và phải nhanh chóng tạo được hình ảnh sản phẩm
trong tâm trí người tiêu dùng trong thời gian tới. Vì vậy, tơi chọn đề tài “Xây dựng và
phát triển thương hiệu ‘VNGAS’cho cơng ty Shinpetrol” cho luận văn thạc sĩ kinh tế
của mình.
2. Mục tiêu của đề tài
• Đánh giá cơng tác xây dựng các thương hiệu LPG tại thị trường.
• Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng thương hiệu ‘VN Gas’.
• Đề xuất phương án xây dựng và một số giải pháp nhằm phát triển thương hiệu VN
Gas trở thành thương hiệu mạnh trên thương trường trong tương lai.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về thương hiệu, xây dựng thương
hiệu mạnh và quản trị thương hiệu của các chun gia nổi tiếng thế giới về vấn đề
thương hiệu như David A. Aaker, Kevin K. Keller. Vận dụng các ngun lý này vào
thực tiễn xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp cũng như các ngun lý tiếp thị nhằm
quảng bá thương hiệu đạt hiệu quả cao nhất. Trong q trình thực hiện, luận văn sử
dụng các phương pháp sau:
• Phương pháp nghiên cứu định tính thơng qua phỏng vấn trực tiếp các đại lý Gas trên địa
bàn TP. Hồ Chí Minh, thảo luận với các chun gia trong lĩnh vực kinh doanh LPG (gas
hố lỏng), các chun gia quản lý thương hiệu và thu thập các ý kiến có giá trị góp phần
vào việc xây dựng nên một thương hiệu LPG mới.
• Phương pháp nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn trực
tiếp người tiêu dùng tại nhà thơng qua phiếu điều tra khách hàng. Thơng tin từ nghiên
cứu định lượng này dùng để sàng lọc các biến quan sát (biến đo lường) dùng để đo
lường mức độ nhận biết các thương hiệu LPG, các yếu tố quyết định chọn mua một
thương hiệu LPG của người tiêu dùng.
• Sử dụng các nguồn tài liệu của các chun gia kinh doanh LPG gồm dự án đầu tư nhà
máy chiết suất Gas bình, các số liệu về phát triển ngành LPG Việt Nam như trữ lượng
sản xuất, tiêu dùng, năng lực sản xuất của một số cơng ty kinh doanh LPG trên thị
trường Việt Nam.
• Sử dụng nguồn tài liệu từ báo chí, các văn kiện, tài liệu của các bộ ban ngành có liên
quan.
4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
• Phạm vi nghiên cứu của luận văn là chú trọng phân tích các thành phần tạo nên một
thương hiệu mạnh cho thương hiệu ‘VNGAS’ và một số cơng cụ truyền thơng tiếp
thị để phục vụ cho chiến lược quảng bá và phát triển thương hiệu mới được xây
dựng.
• Luận văn chỉ dừng ở việc phân tích hiện trạng xây dựng các thương hiệu Gas bình
(LPG) của các cơng ty kinh doanh LPG trên thị trường. Từ đó rút ra một mơ hình
riêng cho việc xây dựng thương hiệu ‘VNGAS’ nhằm hỗ trợ tốt cho dự án sản xuất
đưa sản phẩm LPG của Shinpetrol xâm nhập thị trường.
• Luận văn tập trung đề xuất mơ hình xây dựng thương hiệu và thiết kế các thành
phần của thương hiệu. Từ đó đề ra một số giải pháp nhằm phát triển thương hiệu
VNGAS.
5. Kết cấu luận văn
Luận văn được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu. Chương này đưa ra các khái niệm về
thương hiệu, các mơ hình xây dựng thương hiệu và việc tạo bản sắc riêng cho thương
hiệu, và chiến lược phát triển thương hiệu.
Chương 2: Đánh giá thực trạng cơng tác xây dựng thương hiệu của các cơng ty kinh
doanh gas bình hố lỏng (LPG) trên thị trường. Từ đó nêu lên được khả năng xây dựng
thành cơng một thương hiệu LPG mới để xâm nhập thị trường.
Chương 3: Đề ra mơ hình xây dựng thương hiệu và một số giải pháp nhằm duy trì
và phát triển thương hiệu ‘VNGAS’. Chương này tập trung vào các bước xây dựng
thành cơng một thương hiệu gồm: đề ra thị trường mục tiêu, đặt tên thương hiệu, xây
dựng các thành phần tạo nên bản sắc riêng cho thương hiệu. Đề xuất các phương pháp
tiếp thị thương hiệu nhằm quảng bá thành cơng thương hiệu mới xây dựng và một số
biện pháp nhằm phát triển thương hiệu ‘VNGAS’ trong tương lai.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.2 Lý luận chung về thương hiệu
1.2.1 Khái niệm về thương hiệu
Thương hiệu đã xuất hiện cách đây hàng thế kỷ với ý nghĩa để phân biệt hàng hóa
của nhà sản xuất này với nhà sản xuất khác. Từ “brand” xuất phát từ ngơn ngữ Na Uy
cổ “brandr”, nghĩa là “đóng dấu bằng sắt nung” (to burn) là cách thức các chủ vật ni
đánh dấu lên các con vật của mình để nhận ra chúng.
Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, thương hiệu là “Một cái tên, từ ngữ, ký hiệu,
hình vẽ thiết kế,… hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng
hóa, dịch vụ của một người hoặc một nhóm người bán với hàng hố và dịch vụ của
các đối thủ cạnh tranh”.
John Murphy (1998) cho rằng: “Thương hiệu là tổng hợp tất cả các yếu tố vật
chất, thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm, hoặc một dòng sản phẩm, bao gồm
bản thân sản phẩm, tên gọi, logo, “hình ảnh “ và mọi sự thể hiện hình ảnh, dần qua thời
gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí khách hàng nhằm thiết lập một chỗ đứng tại
đó”. Theo quan điểm này, sản phẩm chỉ là thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung
cấp lợi ích chức năng cho khách hàng và thương hiệu chỉ là thành phẩn cho sản phẩm.
Như vậy, các thành phần tiếp thị hỗn hợp (giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng là thành
phần của một thương hiệu.
1.2.2 Thành phần của thương hiệu
Như vậy theo quan điểm của John Murphy thì thương hiệu có ý nghĩa rộng lớn
hơn sản phẩm nó bao gồm cả hai thuộc tính lợi ích chức năng và tâm lý trong đó nó
chứa đựng tên thương hiệu, biểu tượng, lơgơ Thương hiệu có thể bao gồm các thành
phần sau:
1.2.2.1 Thành phần chức năng: Là sản phẩm cốt lõi, cung cấp những thuộc tính lợi
ích chức năng cho khách hàng như cơng dụng sản phẩm, đặc trưng bổ sung và chất
lượng.
1.2.2.2 Thành phần cảm tính hay cảm xúc: Bao gồm các yếu tố mang giá trị biểu
tượng nhằm tạo cho khách hàng mục tiêu những lợi ích tâm lý. Các yếu tố này có thể
là tính cách thương hiệu, biểu tượng, vị trí thương hiệu và các yếu tố đồng hành với
nó như quốc gia, xuất xứ .vv
1.1.3. Một số thuật ngữ về thương hiệu
1.1.3.1 Giá trị thương hiệu
Giá trị thương hiệu là một trong những khái niệm marketing phổ biến và tiềm năng
nhất xuất hiện vào những năm 1980. Khái niệm này ngày càng trở nên quan trọng trong
lĩnh vực quản trị thương hiệu và marketing.
Trên thế giới có rất nhiều quan điểm và cách đánh giá khác nhau về giá trị thương
hiệu nhưng nhìn chung giá trị thương hiệu đều được phân tích và đánh giá từ góc độ
người tiêu dùng.
Trong số đó, định nghĩa của David Aaker (1996, 7) khá phổ biến và được nhiều học
giả và các nhà quản trị tán đồng trong nghiên cứu và phân tích về giá trị thương hiệu:
“Giá trị thương hiệu là tồn bộ những tài sản được gắn liền với biểu tượng và tên
thương hiệu mà làm gia tăng thêm giá trị được cung cấp bởi một sản phẩm hay dịch
vụ cho cơng ty hoặc cho khách hàng của cơng ty”.
Theo ơng giá trị thương hiệu được tạo ra bởi 4 yếu tố sau:
ª Sự nhận biết về thương hiệu
ª Sự trung thành đối với thương hiệu
ª Chất lượng được cảm nhận
ª Các liên hệ thương hiệu
Tóm lại, giá trị thương hiệu là một khái niệm có ý nghĩa quan trọng trong chiến
lược tiếp thị. Xây dựng thương hiệu có thể tạo ra sự khác biệt dựa trên những ngun
tắc quảng bá vào giá trị thương hiệu. Sự khác biệt làm gia tăng giá trị của một sản phẩm
do kết quả của những nỗ lực tiếp thị mang lại.
1.1.3.2 Bản sắc thương hiệu
Bản sắc thương hiệu được định nghĩa như sau:”Bản sắc thương hiệu là một tập
hợp duy nhất những phối thức của thương hiệu mà nhà chiến lược thương hiệu
mong muốn để tạo ra hoặc duy trì nó. Sự phối thức này trình bày những gì thương
hiệu thể hiện bao gồm sự cam kết đến khách hàng từ những thành viên của tổ chức”
(David Aaker 1996, 68).
Theo David Aaker, bản sắc thương hiệu sẽ giúp thiết lập mối quan hệ giữa thương
hiệu và khách hàng bằng việc đưa ra những mức giá trị liên quan đến lợi ích tài chính,
lợi ích cảm tính và lợi ích tự biểu hiện bao gồm 12 phạm vi được tổ chức xung quanh 4
khía cạnh sau:
• Thương hiệu - như một sản phẩm (phạm vi sản phẩm, đặc tính sản phẩm, chất
lượng/giá trị, tính hữu dụng, người sử dụng và xuất xứ). Những vấn đề liên
quan đến sản phẩm ln ln là thành phần quan trọng của nhận diện thương hiệu
bởi vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định lựa chọn thương hiệu của người
tiêu dùng.
• Thương hiệu – như một tổ chức (đặc tính của tổ chức, kết hợp giữa
tính địa phương và tồn cầu). Thương hiệu xét theo khía cạnh này tập trung vào
những thuộc tính của tổ chức hơn là những thuộc tính sản phẩm hay dịch vụ. Các
thuộc tính tổ chức như sự đổi mới, nâng cao chất lượng, các vấn đề liên quan mơi
trường thường bền vững hơn và chịu đựng tốt hơn với các áp lực cạnh tranh so với
thuộc tính sản phẩm hay dịch vụ.
• Thương hiệu – như một con người (tính cách thương hiệu). Thương
hiệu xét theo khía cạnh tính cách con người sẽ thể hiện một bản sắc thương hiệu
phong phú và hấp dẫn hơn so với bản sắc thương hiệu dựa trên các đặc tính sản
phẩm. Giống như con người, thương hiệu có thể được nhận biết qua tính cách thời
thượng, hồn hảo, ấn tượng, đáng tin cậy, vui vẻ, năng động, trẻ trung hay trí tuệ.
• Thương hiệu – như một biểu tượng (một hình ảnh, một ẩn dụ và sự kế
thừa thương hiệu). Một biểu tượng mạnh có thể giúp cho thương hiệu được nhận
biết và nhớ dễ dàng hơn. Sự hiện diện của biểu tượng có thể là thành phần quan
trọng trong việc phát triển thương hiệu.
Ngồi ra, cấu trúc bản sắc thương hiệu bao gồm bản sắc cốt lõi và phần mở rộng
bản sắc. Bản sắc cốt lõi: đó là bản chất khơng đổi của thương hiệu khi thương hiệu xâm
nhập thị trường mới hay tạo ra sản phẩm mới. Bản sắc mở rộng bao gồm các thành phần
của bản sắc thương hiệu, được tổ chức và trong những nhóm có tính kết nối, cung cấp
kết cấu và tính trọn vẹn của thương hiệu (Phụ lục 1)
1.1.3.3 Chất lượng cảm nhận
Chất lượng ở đây thường được cảm nhận theo hai khía cạnh chất lượng lý tính và
chất lượng cảm tính.
Chất lượng lý tính là thành phần chất lượng cấu tạo bên trong sản phẩm thường
khách hàng khó nhận thức được hết. Còn chất lượng cảm tính là chất lượng được tạo ra
giá trị bên ngồi của thương hiệu mà khách hàng căn cứ vào đó để quyết định mua hàng.
Như vậy chất lượng được cảm nhận bởi khách hàng là thành phần thứ ba của giá trị
thương hiệu.
3.2. Xây dựng thương hiệu
1.2.1 Một số điều kiện cơ bản xây dựng thương hiệu
 Đảm bảo sự nhận diện một cách đầy đủ về thương hiệu của khách hàng và sự nhận
thức về thương hiệu trong tâm trí khách hàng.
 Tiến hành nghiên cứu định tính và định lượng để hiểu một cách đầy đủ khách hàng
là ai, họ nhận thức về thương hiệu và các thương hiệu cạnh tranh như thế nào và quy
trình mua hàng của họ ra sao?
 Định nghĩa thương hiệu rõ ràng. Nó bao gồm phát biểu về định vị, phối thức thương
hiệu, tên thương hiệu, biểu tượng thương hiệu, nhận diện thương hiệu và tính cách
thương hiệu.
 Phát triển một chiến lược thương hiệu và kế hoạch tiếp thị để áp dụng những định
nghĩa về thương hiệu đến tất cả các mối quan hệ khách hàng.
 Tạo ra và thực thi các chương trình tiếp thị một cách hiệu quả.
 Quản lý thương hiệu một cách liên tục và theo dõi nó thơng qua nghiên cứu để phát
triển, duy trì và tạo động lực thúc đẩy thương hiệu.
1.2.2 Mơ hình xây dựng thương hiệu
Xây dựng thương hiệu là một q trình lâu dài, bền bĩ đòi hỏi cần có một chiến lược
cụ thể có tính khoa học, phù hợp với thực tiễn của doanh nghiệp và thị trường. Tính
khoa học thể hiện ở sự phù hợp của mơ hình thương hiệu với chiến lược tiếp thị và
chiến lược phát triển sản phẩm của doanh nghiệp.
Hiện nay, một cách tương đối, có thể chia các mơ hình xây dựng thương hiệu thành
ba nhóm cơ bản sau:
 Mơ hình xây dựng thương hiệu gia đình
Theo mơ hình này, việc xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp chỉ tiến hành trên
thương hiệu gia đình, tức là doanh nghiệp chỉ có một hoặc hai thương hiệu tương ứng
cho những chủng loại hàng hố khác nhau.
Mơ hình này được coi là mơ hình truyền thống trong xây dựng thương hiệu, được
rất nhiều cơng ty, tập đồn lớn trên thế giới áp dụng bởi ưu điểm chi phí thấp, tiếp cận
thị trường nhanh chóng, dễ dàng hơn.
Tuy nhiên nhược điểm chính của mơ hình này là nguy cơ rủi ro cao, chỉ cần một
chủng loại hàng nào đó mất uy tín sẽ ảnh hưởng ngay đến thương hiệu chung của doanh
nghiệp.
 Mơ hình xây dựng thương hiệu cá biệt
Xây dựng thương hiệu cá biệt (còn được gọi là mơ hình thương hiệu riêng, thương
hiệu phụ – subbrand) là tạo ra các thương hiệu riêng cho từng chủng loại hoặc từng
dòng sản phẩm nhất định, mang tính độc lập, ít hoặc khơng có liên hệ với thương hiệu
gia đình hay tên doanh nghiệp. Người tiêu dùng chỉ biết đến thương hiệu của từng hàng
hố cụ thể mà khơng biết hoặc rất ít biết đến doanh nghiệp sản xuất ra hàng hố đó.
Mơ hình này thường được các doanh nghiệp lựa chọn khi thâm nhập vào một thị
trường mới với mục tiêu đột kích táo bạo và thường rất phù hợp với các doanh nghiệp
có quy mơ vừa và nhỏ nhưng năng động. Ưu điểm nổi bật của mơ hình là hạn chế được
rủi ro và sự suy giảm uy tín của doanh nghiệp trong trường hợp có sự cố về chất lượng
hàng hố. Thương hiệu đó có thể thất bại nhưng uy tín doanh nghiệp sẽ khơng bị ảnh
hưởng nhiều.
Tuy nhiên, nhược điểm lớn của mơ hình này là đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư
khá nhiều để phát triển thương hiệu, đặc biệt là khi thâm nhập thị trường với nhiều
chủng loại hàng hố khác nhau.
 Mơ hình đa thương hiệu
Đây là mơ hình tạo dựng đồng thời cả thương hiệu gia đình và thương hiệu cá biệt,
thậm chí cả thương hiệu nhóm. Mơ hình đa thương hiệu có thể được thực hiện theo cách
tạo ra sự kết hợp song song hoặc bất song song.
Kết hợp song song là tạo ra sự thể hiện và vai trò của thương hiệu gia đình và
thương hiệu cá biệt như nhau, hỗ trợ tối đa cho nhau như là hai bộ phận của một thương
hiệu. Kết hợp bất song song là dạng kết hợp, trong đó một thương hiệu (hoặc gia đình
hoặc cá biệt) được thể hiện rõ hơn, mang tính chủ đạo còn thương hiệu còn lại sẽ có vai
trò bổ sung, hỗ trợ.
Mơ hình đa thương hiệu sẽ làm tăng khả năng chiếm lĩnh vị trí trưng bày hàng hố
của doanh nghiệp trong các siêu thị, đại lý. Tuy nhiên mơ hình này cũng tạo sự cạnh
tranh ngầm giữa các thương hiệu của cùng một doanh nghiệp và đòi hỏi doanh nghiệp
phải đầu tư cho thương hiệu rất lớn. Do vậy, mơ hình này chỉ thích hợp với các cơng ty
có quy mơ lớn, các cơng ty đa quốc gia.
1.2.3 Nghiên cứu thị trường mục tiêu
Thơng tin thị trường là một đòi hỏi quan trọng trong lĩnh vực marketing thương
hiệu. Việc nghiên cứu thị trường được thực hiện tốt sẽ giúp cho các nhà quản trị thương
hiệu có những số liệu dự báo hữu ích về xu hướng vận động của các yếu tố tiêu dùng,
các yếu tố của đối thủ cạnh tranh, nhận thức của người tiêu dùng về thương hiệu hàng
hố doanh nghiệp mình. Q trình nghiên cứu thị trường mục tiêu trong xây dựng
thương hiệu có thể theo trình tự sau:

1.2.3.1 Nghiên cứu sơ bộ thị trường
Việc nghiên cứu sơ bộ thị trường sẽ giúp cho nhà quản trị thương hiệu có cái nhìn
phác thảo về thị trường nơi doanh nghiệp muốn định vị, xây dựng và phát triển thương
hiệu. Tuy vậy, việc thực hiện nghiên cứu thị trường cạnh tranh cho các thương hiệu
khơng phải là việc dễ dàng. Khác với nghiên cứu thị trường đối với các sản phẩm,
nghiên cứu thị trường cho thương hiệu phải xác định mức độ ảnh hưởng tới quyết định
mua một sản phẩm. Điều này lại phụ thuộc vào nhận thức của người tiêu dùng đối với
thương hiệu sản phẩm đó như thế nào.
Như vậy, muốn nghiên cứu được q trình định vị thương hiệu trong tâm trí người
tiêu dùng, nhà quản trị thương hiệu cần sử dụng các cơng cụ gián tiếp hoặc các phương
pháp suy đốn. Bởi vì những chỉ số thuần túy về thị trường hầu như khơng cho phép
chúng ta xác định rõ đâu là thị trường của một loại thương hiệu.
Về mặt lý thuyết, để có một bức tranh tồn diện về thị trường và xác định được
những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến vị thế vận động của thương hiệu đòi hỏi phải có
một nghiên cứu tổng thể rất lớn. Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta có thể tiến hành
những cơng việc đơn giản, ít tốn kém hơn nhằm tác động vào đối tượng được điều tra.
Trong chính q trình điều tra, nghiên cứu thị trường cho thương hiệu, chúng ta
đồng thời tác động vào nhận thức của đối tượng được điều tra làm thay đổi hành vi mua
hàng của họ trong tương lai. Đơn giản là chúng ta để chính khách hàng tham gia vào q
trình sáng tạo ra hiện trạng của thương hiệu đó trên thị trường.
1.2.3.2 Thị trường mục tiêu
Xác định khách hàng mục tiêu là vấn đề quan trọng bởi vì những khách hàng khác
nhau sẽ có những khái niệm và sở thích khác nhau về thương hiệu. Vì vậy, tiến hành
nghiên cứu thị trường mục tiêu là nhằm nắm bắt được những thay đổi của các nhu cầu
khách hàng về thương hiệu. Do đó, một nhà nghiên cứu thị trường về thương hiệu thành
cơng cần nhận thức rằng quản trị thương hiệu là quản trị đối với các nhu cầu.
Trong q trình điều tra nghiên cứu thị trường, nhà quản trị thương hiệu phải thật sự
chú ý đến việc xác định và phân khúc thị trường cần nghiên cứu, và chọn ra phân khúc
thị trường mục tiêu. Có hai phương pháp cơ bản khi tiến hành nghiên cứu thị trường, đó
là nghiên cứu thực địa và nghiên cứu tại văn phòng.
Thu thập thơng tin tại văn phòng thường tạo ra một khối lượng đồ sộ thơng tin, làm
tốn nhiều thời gian, cơng sức để sàng lọc những thơng tin khơng cần thiết.
Do đó cần kết hợp với nghiên cứu thực địa để chọn nguồn thơng tin đánh giá tập
trung phù hợp với mục đích điều tra. Ví dụ như thơng qua phỏng vấn trực tiếp cá nhân,
phiếu điều tra, qua điện thoại, qua đại lý bán hàng … Do vậy, việc thiết kế các câu hỏi
theo mục đích điều tra là vơ cùng quan trọng, sẽ tránh lãng phí thời gian và tiền bạc khi
được thiết kế đầy đủ và phù hợp.

1.2.4 Định vị thương hiệu
Khái niệm định vị ra đời vào năm 1972 trong một loạt bài viết của hai chun gia
trong lĩnh vực marketing và thương hiệu là Al Ries và Jack Trout trên tờ Advertising
Age với nhan đề “Kỷ ngun định vị”. Ngày nay, có nhiều quan điểm về định vị vì định
vị được coi là cơng cụ giúp doanh nghiệp thành cơng trong việc biết mình sẽ làm gì và
đối tượng của mình cần các nhu cầu nào.
Philip Kotler định nghĩa định vị thương hiệu như là “Hoạt động thiết kế sản
phẩm và hình ảnh cơng ty sao cho nó chiếm lĩnh một vị trí phân biệt và có giá trị
trong tâm trí khách hàng mục tiêu”.
Theo định nghĩa của David A. Aaker (1996, 176) thì “Định vị thương hiệu là một
phần của bản sắc thương hiệu và cơng bố giá trị mà sẽ được thơng tin đến khách
hàng mục tiêu những điểm vượt trội của thương hiệu so với các thương hiệu của đối
thủ cạnh tranh”.
Harper W. Bond (2002, 212) bổ sung thêm: định vị thương hiệu là đưa ra các thành
phần liên quan đến thương hiệu và thơng tin đến khách hàng mục tiêu nhằm làm cho họ
hiểu và đánh giá cao những thành phần tiêu biểu của thương hiệu so với thương hiệu
cạnh tranh.
Luận văn tham khảo quy trình định vị gồm bảy bước của Bond (2002, 212) như
sau:
Bước 1: Nhận diện các thương hiệu cạnh tranh trên thị trường. Trong phần này chỉ
tập trung vào thương hiệu các sản phẩm Gas bình (LPG) trên thị trường TP. HCM và các
tỉnh khu vực phía Nam.
Bước 2: Nhận diện các thành phần của thương hiệu. Các thành phần này được xác
định thơng qua các yếu tố như tính đặc trưng của sản phẩm, biểu tượng, lơgơ, xuất xứ
sản xuất …
Bước 3: Thu thập thơng tin từ khách hàng về các thành phần có liên quan đến
thương hiệu. Nguồn thơng tin này được tiến hành qua các cuộc khảo sát, nghiên cứu thị
trường tiêu dùng sản phẩm LPG. Thơng tin được đúc kết những cảm nhận của khách
hàng về các thành phần thương hiệu.
Bước 4: Phân tích vị trí hiện tại của thương hiệu. Tức là xem xét một cách tổng thể
về vị trí tất cả các thương hiệu LPG trên thị trường.
Bước 5: Sau khi khảo sát, xác định lại các thành phần của thương hiệu LPG của
cơng ty mà người tiêu dùng ưa thích nhất và tìm cách thoả mãn nó.
Bước 6: Xem xét sự phù hợp giữa vị trí thương hiệu có thể và xu hướng nhu cầu
của thị trường. Từ đó lựa chọn những điểm mạnh để phát huy và điểm yếu để khắc
phục.
Bước 7: Các chương trình định vị. Từ việc phân tích ở bước 6, các chương trình
định vị thương hiệu được thiết lập.
1.3 Những yếu tố cần chú ý trong xây thương hiệu
Trong q trình thực hiện chiến lược xây dựng thương hiệu, nhà quản trị thương
hiệu ln phải gặp những rủi ro, cản trợ bởi những yếu tố khơng chắc chắn chịu ảnh
hưởng bởi mơi trường ln biến động. Chính vì vậy, khi xây dựng thương hiệu, nhà
quản trị thương hiệu cần chú ý nhữung yếu tố sau:
1.3.1 Thiết kế thương hiệu

Xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000:2000 tại Xí Nghiệp cơ khí 79

BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
xuất các loại bánh răng, phụ tùng ô tô, máy nông nghiệp cho Quốc Phòng và
làm các hàng kinh tế nên việc áp dụng ISO để mọi hoạt động đều diễn ra cách
liên tục, hạn chế những sai hỏng, nhằm nâng cao uy tín và thương hiệu của Xí
Nghiệp trên thị trường. Vì vậy việc áp dụng ISO 9000:2000 luôn được Ban
Giám Đốc và các Phòng ban hết sức chú trọng trong nhiều năm nay nhưng
việc xây dựng và áp dụng đã gặp rất nhiều khó khăn do nhiều cán bộ công
nhân viên trong Xí Nghiệp chưa nhận thức hết vai trò của việc áp dụng ISO
vào công tác quản trị và sản xuất nên dẫn đến tình trạng hàng hoá sai hỏng có
biểu hiện gia tăng, hàng bảo hành nhiều. Khách hàng thường xuyên góp ý do
sản phẩm không theo những yêu cầu, thông số kỹ thuật đưa ra. Lượng khách
trung thành với Xí Nghiệp có sự giảm sút do chất lượng kém, thời gian giao
nhận hàng không đảm bảo. Trước thực trạng trên em đã chọn đề tài: “Xây
dựng và thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000:2000 tại Xí
Nghiệp cơ khí 79” để làm báo cáo thực tập chuyên đề.
Báo cáo của em chia thành 3 chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Xí Nghiệp cơ khí 79 và sự cần thiết, điều kiện xây dựng và
thực hiện hệ thống quản trị chất lượng ISO 9000:2000.
1. Lịch sử hình thành và phát triển:
2. Đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của Xí Nghiệp
3. Tình hình sản xuất kinh doanh trong những năm 2006 đến 2008
4. Sự cần thiết áp dụng ISO 9000:2000 tại Xí Nghiệp.
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý chất lượng tại Xí Nghiệp cơ
khí 79.
1. Thực trạng chất lượng và quản lý chất lượng.
2. Đánh giá chung về quản lý chất lượng tại Xí Nghiệp
3. Các vấn đề cần giải quyết khi áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng
ISO 9000: 2000
Chương 3: Một số giải pháp nhằm xây dựng hệ thống quản lý chất
lượng ISO 9000: 2000 tại Xí Nghiệp cơ khí 79
Nguyễn Thị Ngọc Anh QTKD Tổng Hợp 47A
5
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
1. Định hướng phát triển của Xí Nghiệp trong thời gian tới
2. Một sô giải pháp
3. Kiến nghị đề xuất.
Mặc dù báo cáo này chỉ nghiên cứu một vấn đề rất nhỏ trong hệ thống
các lĩnh vực quản trị nói chung nhưng do thời gian và trình độ có hạn nên
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em xin chân thành cảm ơn các cô chú,
anh chị trong Xí Nghiệp Cơ Khí 79 đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình
thực tập, cảm ơn Thầy giáo – GS. TS Nguyễn Đình Phan đã tận tình chỉ bảo
và hướng dẫn em hoàn thành báo cáo này.
CHƯƠNG I: XÍ NGHIỆP CƠ KHÍ 79 VÀ SỰ CẦN THIẾT,ĐIỀU KIỆN
XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN HỆ THỐNG QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG
ISO 9000: 2000
1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN:
1.1. Quá trình hình thành:
Công ty cơ khí Z179 được chính thức thành lập ngày 11 tháng 3 năm
1972. do quyết định của cục quản lý xe. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và của
Bộ Quốc Phòng, công ty không ngừng phát triển và trưởng thành. Công ty Cơ
khí Z179 là một công ty sản xuất công nghiệp Quốc Phòng để góp phần xây
dựng lực lượng vũ trang ngày một vững mạnh.
Tiền thân của Z179 là từ những trạm sửa chữa trong kháng chiến chống
Pháp, tiến tới thành lập các xưởng sửa chữa trong hòa bình. Công ty Cơ khí
Z179 ra đời trong giai đoạn cả nước đang ra sức hoàn thành nhiệm vụ chống
Mỹ cứu nước vĩ đại.
Từ những yêu cầu và nhiệm vụ cần phải xây dựng ngành vận tải quân
sự có một đội ngũ cán bộ, công nhân giỏi, có một nền sản xuất với chuyên
Nguyễn Thị Ngọc Anh QTKD Tổng Hợp 47A
6
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
môn kĩ thuật tiên tiến. Cục Quản lý xe đã giao cho Z179 một nhiệm vụ quan
trọng: Chế thử các phụ tùng thay thế cho các loại xe cơ giới. Động cơ bánh
xe, bánh răng cám, trục khuỷu, bánh răng côn xoắn, máy nén khí, bơm trợ lực
tay lái lần lượt được chế tạo thành công và đưa vào sản xuất hàng loạt. Trải
qua những năm tháng xây dựng và trưởng thành Z179 đã đóng góp xứng đáng
vào công cuộc bảo vệ Tổ Quốc và xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội.
Xí nghiệp cơ khí 79 trực thuộc Nhà máy cơ khí chính xác 11. Được
thành lập theo quyết định số 123/2003/QĐ- BQP ngày 9/9/2003. Giấy chứng
nhận đăng kí kinh doanh số 01/16000292 ngày 8/7/2004.
Địa chỉ Xí Nghiệp cơ khí 79 : km 12- Quốc lộ 1A- Thị trấn Văn Điển –
Huyện Thanh Trì- Thành phố Hà Nội
Điện thoại: 043.861.5255. Fax: 043.8615255
1.2. Quá trình phát triển:
1.2.1. Giai đoạn 1: Từ năm 1972 đến năm 1974:
Để đáp ứng với yêu cầu và nhiệm vụ được giao nên sau khi hình thành
Z179 nhanh chóng phát triển về mọi mặt. Cơ cấu tổ chức ngày càng hoàn
thiện. Cục chỉ định Ban Giám Đốc, chỉ định hàng ngũ cán bộ quản lý chủ
chốt. Từ các tổ nay trở thành các ngành sản xuất như ngành cơ khí, ngành
dụng cụ, ngành nóng. Ở mỗi ngành đã được trang bị đầy đủ về người và các
trang thiết bị hiếm quý. Ban Vật tư , Ban Quân y cũng lần lượt ra đời. Quân
số cán bộ, chiến sỹ, công nhân ngày tăng nhanh. Do yêu cầu phát triển của
ngành xe nên trong năm 1971 cục quản lý xe giao cho Z179 nghiên cứu chế
thử và đi vào sản xuất động cơ xe Trường Sơn, chế tạo trục khuỷu, máy nén
khí, bơm trợ lực tay lái bầu giảm xóc ngang, cần gạt mưa và nhiều bộ gá lớn
nhỏ cho các nhà máy bạn trong Cục. Muốn hoàn thành được nhiệm vụ, công
ty đã nhanh chóng ổn định về mọi mặt. Các cấp lãnh đạo trong nhà máy đã
tập trung vào việc tập hợp được cơ sở vật chất kĩ thuật nhằm tổ chức lại sản
xuất và xây dựng được một đội ngũ cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên yêu
Nguyễn Thị Ngọc Anh QTKD Tổng Hợp 47A
7
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
ngành, yêu nghề phục vụ lâu dài trong Quốc Phòng và cho sự lớn mạnh của
ngành xe mai sau.
Công ty cơ khí Z179 đã phấn đấu liên tục trở thành công ty được tổng
cục phân cấp loại 2, có cơ cấu tổ chức hòan chỉnh, có các trang thiết bị tương
đối hiện đại nhằm phục vụ lâu dài cho ngành xe.
1.2.2. Giai đoạn 2: Từ 1975 đến 1985:
Ngay từ đầu năm 1975 Tổng cục Kĩ Thuật đã chủ trương hợp nhất một
số xí nghiệp nhỏ tạm thời, bao cấp nhập thành những quy mô sản xuất lớn vào
Z179. Nhiệm vụ đặt ra ngay lúc đó là phải vận chuyển tòan bộ các trang thiết
bị nhân lực về địa điểm tập kết sao cho an tòan tuyệt đối về người và của.
Song song với việc di chuyển, công ty vừa thiết kế, vừa thi công, vừa xây
dựng và lắp đặt thiết bị để đi vào sản xuất đảm bảo kế hoạch năm.
Công ty đã hết sức cố gắng ổn định công việc và thực hiện các nhiệm
vụ được giao. Ngay sau khi sát nhập công ty đã được giao nhiệm vụ chính là
sản xuất bánh răng, phụ tùng gầm ô tô, ngoài ra còn tiến hành sản xuất các
phụ tùng thay thế để đáp ứng yêu cầu cấp bách cho việc sửa chữa xe phục vụ
cho chiến đấu. Ngay từ giữa năm 1975, sau khi sát nhập công ty đã đưa ngay
vào lắp đặt dây chuyền sản xuất bánh răng cho nên cuối năm 1975 dây
chuyền sản xuất này đã đi vào ổn định. Sản phẩm bánh răng sau này trở thành
sản phẩm chính và là một trong những mặt hàng truyền thống của công ty. Từ
những năm 1978 đến năm 1980, công ty đã sản xuất nhiều mặt hàng đột xuất
để phục vụ kịp thời cho chiến đấu như sản xuất xích xe tăng, sản xuất các
công trình xa để phục vụ sửa chữa lưu động, sản xuất hơn 2000 cần gạt mưa,
10000 kẹp cáp, 10 triệu đạn bi, 1 triệu con dao tông, 13846 xẻng, 5966 cuốc
bộ binh, 362 ghế hành quân, 60 ngàn biển số ô tô, chế tạo thử buồng nổ…
Trong thời gian này việc sản xuất ra nhiều mặt hàng phục vụ chiến đấu
trở thành phong trào thi đua sôi nổi. Mọi người coi đây là mặt trận và mỗi cá
nhân là một chiến sỹ trên mặt trận ấy. Nổi bật nhất trong giai đoạn này là
Nguyễn Thị Ngọc Anh QTKD Tổng Hợp 47A
8
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
thành tích đạt được trong sản xuất của công ty. Trong những năm vừa xây
dựng, vừa trưởng thành, vừa góp phần phục vụ chiến đấu công ty vẫn đảm
bảo được kế hoạch sản xuất mà Tổng cục giao. Ba năm liền công ty đều được
Tổng cục cấp bằng khen.
1.2.3. Giai đoạn 3: Từ 1986 đến nay:
Trong những năm đầu xóa bỏ chế độ bao cấp, công ty gặp rất nhiều khó
khăn, do chưa kịp thích nghi với điều kiện mới. Đội ngũ cán bộ công nhân
viên chức trong công ty chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý, còn nhiều ý kiến
chủ quan, quan liêu, cửa quyền nên tình hình sản xuất kinh doanh có chiều
hướng đi xuống, lương của cán bộ công nhân viên chức còn chưa được bảo
đảm, đời sống của cán bộ công nhân viên còn gặp rất nhiều khó khăn.
Nhưng những năm gần đây, tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
ngày càng ổn định và phát triển. Do đặc thù của sản phẩm bánh răng là ít nơi
có thể sản xuất, chế tạo được và chất lượng sản phẩm của công ty lại cao và
ổn định nên công ty đã tìm được cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị
trường. Các hợp đồng kinh tế ngày càng nhiều. Công ty không chỉ chuyên sản
xuất về bánh răng mà còn chế tạo sản xuất cho một số máy móc thiết bị
chuyên dùng cho ngành sản xuất công nghiệp cơ khí, cho nông nghiệp. Cuộc
sống vật chất và tinh thần của người công nhân được nâng cao, khiến tình
hình sản xuất của công ty ngày càng sôi động. Công ty không những hoàn
thành vượt chỉ tiêu của Bộ đề ra mà còn phát động nhiều phong trào thi đua
sản xuất nên năm nào cũng được Bộ khen thưởng.
Theo quyết định số 123/2003/QĐ- BQP ngày 9/9/2003 Công ty cơ khí
Z179 được sáp nhập vào Nhà máy cơ khí chính xác Z111 và được chuyển đổi
thành Xí Nghiệp cơ khí 79.
Nguyễn Thị Ngọc Anh QTKD Tổng Hợp 47A
9
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
2. Đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của Xí Nghiệp Cơ khí 79
2.1. Đặc điểm về sản phẩm và thị trường:
2.1.1. Sản phẩm:
Xí Nghiệp Cơ khí 79 chuyên sản xuất các mặt hàng cơ khí cho Quốc
Phòng và Kinh Tế. Bao gồm các loại:
- Phụ tùng ô tô, xe máy, các cơ cấu truyền động như: Bánh răng côn
xoắn, côn thẳng, bánh răng trụ răng thẳng, răng nghiêng. Trục bánh
vít và các dạng trục then hoa.
- Hộp số các loại dùng cho: ô tô, xe máy, máy thủy, máy nông
nghiệp, và phụ tùng khác dùng trong các ngành dệt, nhiệt điện.
- Phụ kiện đường dây tải điện, bi nghiền xi măng, nghiền than.
- Đĩa xích xe máy dùng cho xe Honda, Suzuki, Dayang, Yamaha
- Các loại dụng cụ cắt gọt: dao phay lăn răng, dao sọc, bao hình, dao
chuốt, quả lô cán ren, cán thép.
- Các loại bánh xe làm việc trong môi trường ăn mòn.
Trong đó mặt hàng truyền thống của Xí Nghiệp là bánh răng côn xoắn
có nhiều ưu thế trên thị trường sản phẩm cơ khí.
Bên cạnh đó Xí Nghiệp còn sản xuất sản phẩm cho thị trường nông,
lâm, ngư nghiệp trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài theo đơn đặt hàng của
khách.
Dưới đây là một vài hình ảnh sản phẩm của Xí Nghiệp cơ khí 79:
Nguyễn Thị Ngọc Anh QTKD Tổng Hợp 47A
10
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ

Nguyễn Thị Ngọc Anh QTKD Tổng Hợp 47A
11
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
Bảng 1: Sản phẩm của Xí Nghiệp trong giai đoạn 2006-2008
( Nguồn: Phòng Kế hoạch- Vật tư)
Như vậy, tỷ trọng cơ cấu sản phẩm trong 3 năm từ 2006 đến 2008,
những sản phẩm Nhóm hàng Bánh răng côn xoắn chiếm tỷ trọng lớn nhất do
Xí nghiệp đã được chiếm chủ yếu thị trường trong nước xuất khẩu ra thị
trường Đài Loan.
Qua bảng số liệu trên ta thấy mặt hàng Kinh tế chiếm tỷ trọng lớn từ
89% đến 92% so với tổng sản phẩm sản xuất của XÍ nghiệp.
Nguyễn Thị Ngọc Anh QTKD Tổng Hợp 47A
STT Tên sản phẩm Đơn
vị
2006 2007 2008
A HÀNG QUỐC
PHÒNG
Cái 20.000 29.651 37.128
B HÀNG KINH TẾ
Cái 207.087 328.826 314.299
I. Nhóm bánh răng
côn xoắn
Bộ 61.128 89.901 91.707
1. Côn xoắn benla Bộ 15.302 27.389 31.251
2. Côn xoắn xe TY7E Bộ 30.000 48.727 47.600
3. Bánh răng côn xoắn
khác
Bộ 15.826 13.785
12.856
II. Phụ kiện đường dây Cái 54.810 88.142 61.000
III. Phụ tùng máy cày Cái 16.145 19.739 15.846
IV Phụ tùng băng tải Con 25.985 61.952 78.260
V Phụ tùng ô tô. máy
xúc
Cái - 14.259
3.900
VI Phụ tùng xe máy Cái 3.175 2.215 -
VII Hàng cột vi ba Cái 12.586 17.780 21.000
VIII Giá trị các hàng
khác
Cái 33.258 34.838
42.586
TỔNG 227.087 358.477 351.427
12
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
2.1.2. Thị trường:
2.1.2.1. Thị trường tiêu thụ:
Vấn đề về thị trường tiêu thụ sản phẩm có những biến động đáng kể do
khủng hoảng kinh tế trong những năm gần đây. Do Xí Nghiệp Cơ khí 79 trực
thuộc Bộ Quốc Phòng nên sản phẩm sản xuất ra có cả sản phẩm công nghiệp
Quốc Phòng và sản phẩm kinh tế. Sản phẩm công nghiệp Quốc Phòng chủ
yếu được tiêu thụ trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, dưới sự hỗ trợ tiêu thụ
của Tổng Cục Kĩ Thuật Công nghiệp Quốc Phòng nên thị trường khá rộng lớn
trải dài từ Bắc vào Nam .
Đối với các mặt hàng Kinh tế cách đây 2 năm Xí Nghiệp đã cung cấp
sản phẩm của mình không chỉ miền Bắc mà đã lan rộng cả miền Trung, miền
Nam với thương hiệu “Phụ tùng máy nổ 79”, cũng trong năm 2006 Xí Nghiệp
đã ký được hợp đồng chế tạo, lắp ráp máy cưa xuất khẩu cho thị trường Đài
Loan nhưng vài năm gần đây, cơ chế của Doanh nghiệp Nhà nước thủ tục làm
việc rườm rà kèm theo chất lượng giảm sút đã khiến cho uy tín của Xí Nghiệp
trên thị trường sụt giảm nghiêm trọng.
2.1.2.2. Thị trường nguyên vật liệu:
Nguồn nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm trong lĩnh vực Quốc
phòng Xí Nghiệp cũng được Bộ cung cấp với số lượng lớn nên việc mở rộng
thị trường trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm phục vụ cho an ninh quốc phòng
là không thể. Xí Nghiệp chỉ thực hiện sản xuất các mặt hàng Quốc Phòng khi
có chỉ tiêu của Bộ giao và khi hòan thành quá trình sản xuất, Xí Nghiệp phải
bàn giao lại số sản phẩm đó cho Bộ và Bộ thực hiện việc cấp phát cho các
đơn vị có liên quan. Tại Xí Nghiệp cơ khí 79 nguyên vật liệu dùng để sản các
mặt hàng cho Quốc phòng thì được Bộ cung cấp với số lượng lớn phù hợp với
Nguyễn Thị Ngọc Anh QTKD Tổng Hợp 47A
13
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN ĐỀ
kế hoạch chỉ tiêu do Bộ giao nên Xí Nghiệp không gặp khó khăn trong việc
tìm mua các loại vật tư này. Phòng Kế hoạch- Vật tư thông qua các chỉ tiêu đó
tổ chức tiếp nhận vật tư rồi điều hành quá trình sản xuất các mặt hàng này sao
cho kịp tiến độ của Bộ
Vật tư dùng để sản xuất các mặt hàng kinh tế, Xí Nghiệp phải tìm mua
trên thị trường. Chính vì vậy, việc xác định nhà cung ứng có ý nghĩa tích cực
trong việc sản xuất xem xét vấn đề giá cả chất lượng của từng loại, thời gian
giao hàng, địa điểm giao hàng, cách vận chuyển…Xí Nghiệp xác định cho
mỗi loại vật tư từ hai đến ba nhà cung ứng, tham khảo giá và các yêu cầu khác
nhau để lựa chọn sao cho chi phí thấp nhưng phải đáp ứng đủ uy tín, năng lực,
thời hạn cung ứng , chất lượng nguyên vật liệu, việc thực hiện được hợp
đồng… từ đó sẽ chủ động tìm nguồn cung ứng thích hợp. Các loại vật liệu
chính dùng để sản xuất các loại sản phẩm như thép các loại ( thép cacbon,
théo hợp kim , thép dụng cụ …) nhôm, đồng, gang …. Xí Nghiệp phải mua ở
các công ty vật tư nhập khẩu tổng hợp. Các loại vật liệu này công nghiệp
trong nước chưa đáp ứng được nên Xí Nghiệp thường lựa chọn sản phẩm của
Nhật, Liên Xô cũ, Hàn Quốc để đảm bảo chất lượng mà giá thành lại rẻ phù
hợp với năng lực tài chính của Xí Nghiệp. Còn đối với các loại vật tư phụ như
que hàn, than, vòng bi, dây đai, các dụng cụ đo, dụng cụ cắt… bán nhiều trên
thị trường, đặc biệt là thị trường Hà Nội, Xí Nghiệp có thể dễ dàng mua mỗi
khi có nhu cầu mà không gặp khó khăn nào cả.
2.2. Đặc điểm về cơ sở vật chất, trang thiết bị
Hệ thống cơ sở vật chất của Xí nghiệp bao gồm trụ sở làm việc, máy
móc trang thiết bị, phương tiện làm việc.
- Trụ sở làm việc được xây dựng từ những năm 1972, qua nhiều lần
sửa chữa, nâng cấp hiện Xí nghiệp hiện có quy mô gồm tòa nhà văn
phòng 2 tầng và khu phân xưởng sản xuất rộng gần 800m
2
Nguyễn Thị Ngọc Anh QTKD Tổng Hợp 47A
14

Giải pháp hoàn thiện hệ thống kênh phân phối sản phẩm (xăng dầu, dầu mỡ nhờn, gas và phụ kiện) tại công ty xăng dầu B12 ( Quảng Ninh)

không chỉ là anh đa cho ngời tiêu dùng cái gì mà còn là anh đa nó nh thế nào
sẽ quyết định thành công trên thơng trờng.
Khi sản xuất với công nghệ hiện đại và thách thức tổ chức quản lý khoa hoc,
doanh nghiệp sẽ thành công trong khâu này, số lợng và chất lợng sản phẩm đ-
ợc đảm bảo nhng rất có thể doanh nghiệp chỉ thành công ở đây nếu khâu tiếp
theo là phân phối không đợc thực hiện tốt. Phân phối hàng hoá hiệu quả thì
mới có thể thu đợc tiền hàng để chi trả những chi phí trong các khâu của quá
trình sản xuất kinh doanh. Ngợc lại, phân phối hàng hoá không hiệu quả sẽ
dẫn tới những ách tắc trong kinh doanh và có thể doanh nghiệp không chi trả
đợc chi phí dẫn tới phá sản. Thực tế này không chỉ đặt ra đối với doanh
nghiệp sản xuất mà cả doanh nghiệp thơng mại- loại hình doanh nghiệp hoạt
động trong khâu phân phối lu thông hàng hoá.
Ngoài ra, các Công ty còn nhận thấy rằng cạnh tranh thành công, họ
không phải chỉ cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh mà
cònphải thực hiện tốt hơn khả năng sẵn sàng ở Công ty : ở đâu? khi nào? và
nh thế nào đối với nhu cầu thờng trực và không thờng trực của ngời tiêu
dùng. Doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện đợc mục tiêu an toàn, lợi nhuận và vị
thế khi công việc phân phối hàng hoá của mình đợc thực thi một cách có hiệu
quả cao.
II. Nội dung kênh phân phối
1. Xác định địa điểm tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Lựa chọn địa điểm liên quan đến các nội dung xác định thị trờng của doanh
nghiệp theo tiêu thức địa lý và khách hàng đồng thời cụ thể hoá các yếu tố
này trong chiến lợc phân phối. Doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh
trên thị trờng phải giải quyết rất nhiều vấn đề, đặc biệt các tham số sản phẩm,
giá cả và xúc tiến phải đợc xây dựng trên cơ sở lựa chọn đúng các yếu tố liên
quan đến địa điểm,. Danh mục sản phẩm kinh doanh, chính sách giá cả, chính
sách xúc tiến chỉ có thể có hiệu quả cao khi tiến hành xây dựng trên các đặc
điểm của tham số địa điểm ( phân phối) và các tham số còn lại của marketing
6
hỗn hợp. Các doanh nghiệp thơng mại nên lựa chọn địa điểm theo các tiêu
thức cơ bản sau đây:
Xác định địa điểm theo tiêu thức địa lý- ở đâu?
Xác định địa điểm theo tiêu thức khách hàng- cho ai?
1.1. Xác định địa điểm tiêu thụ theo yếu tố địa lý ở đâu?
La chọn điạ điêm theo yếu tố địa lý thực chất là xác định thị trờng
thích hợp của doanh nghiệp theo tiêu thức địa lý va phân đoạn thi trờng thích
hợp thành các đơ vị kiểm soát tơng ứng vơí các đơn vị thành viên của doanh
nghiệp.
Giới hạn địa lý độ rộng của thị trờng và khoảng cách từ nguồn cung cấp
đến ngời mua là vấn đề đầu tiên cần đợc xem xét khi lựa chọn địa điểm tiêu
thụ.về cơ bản, có ba giới hạn địa lý cần đợc xác định:
+ Giới hạn tổng quát: xác định cho toàn doanh nghiệp
+ Giới hạn khu vực: xác định cho đơn vị thành viên
+ Giới hạn địa điểm: xác định cho địa điểm bán hàng
Các quyết định về kích thớc thị trờng thích hợp (giới hạn tổng quát về
mặt địa lý); phân chia thị trờng thích hợp thành các phân đoạn thị trờng (giới
hạn các khu vực) và xác định địa điểm bán hàng ( giới hạn điểm) sẽ là những
cơ sở cho việc quyết định chiến lợc phân phối của doanh nghiệp.
1.2 Xác định địa điểm tiêu thụ của doanh nghiệp thơng mại theo yếu tố
khách hàng
Lựa chọn địa điểm theo yếu tố địa lý có thể đợc nghiên cứu và phân
tích một cách độc lập để làm rõ các vấn đề về chi phí bán hàng và khoảng
cách vận chuyển. Nhng trong chiến lợc phân phối đó mới chỉ là một khía
cạnh. để xây dựng chiến lợc phân phối hiệu quả, cần đợc hoàn thiện bằng các
quyết định lựa chọn địa điểm theo yếu tố khách hàng.
Một thị trờng đợc xác định theo tiêu thức địa lý nào đó luôn bao hàm số lợng
và chủng loại khách hàng khác nhau (với nhu cầu của họ) đang sinh sống và
hoạt động trong lĩnh vực đó. Chính khách hàng với nhu cầu của họ mới là
nguồn hấp dẫn chu yếu khiến cho doanh nghiệp quan tâm đến nó : số lợng
7
khách hàng tiềm năng (ảnh hởng đến doanh số bán), nhu cầu đa dạng của
khách hàng (ảnh hởng đến danh mục mặt hàng) và thu nhập của họ (ảnh hởng
đến số lợng và chất lợng hàng hoá có thể bán đợc). đặc điểm khách hàng giữa
các khu vực và ngay cả trong một khu vực thị trờng theo tiêu thức địa lý có
thể và thờng rất khác nhau nh: dân số, mật độ dân số, mức độ tập trung và
phân tán dân c, thu nhập và phân phối thu nhập, nghề nghiệp, nền văn hoá
Sự khác biệt này ảnh hởng rất lớn đến khả năng bán hàng. Bởi vì vậy, để
quyết đúng về địa điểm,doanh nghiệp còn phhải trả lời đợc câu hỏi bán cho
ai ?một cách chính xác.Điều này có nghĩa là phải xác định phơng thức vận
chuyển đa hàng hoá đến cho họ một cách có hiệu quả.
C ác nhóm khách hàng với t cách là điểm đến của sản phẩm các đặc điểm
của nhóm khách hàng mà doanh nghiềp muốn bán cho họ sẽ quyết định về
vấn đề cần giải quyết trong quá trình quyết định phân phối.
Vệc nghiên cứu lựa chọn địa điểm theo yếu tố địa lý hay yếu tố khách hàng
một cách tơng đối độc lập làm rõ các khía cạnh khác nhau liên quan đến câu
hỏi ai,ở đâu trong chiến lợc phân phối.Nhng khi giải quyết các vấn thuôc
nội dung phân phối của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp thơng mại cần
phải kết hợp chúng một cách bịên chứng một cách hiệu có quả.
2.Lựa chọn xác định phân phối sản phẩm của doanh nghiệp
2.1.Khái niệm kênh phân phối
Trong hoạt động bán hàng của doanh nghiệp luôn tồn tại các dòng vận động
của các yếu tố, nghiệp vụ liên quan đến nó nh:dòng vật chất,dòng dịch
vụ,dòng quyền sở hữu,dòng thanh toán,dòng thông tin,dòng khuyến mại
Kênh phân phối chủ yếu trình bày dòng vận động của hàng hoávật chất,dịch
vụ trong quá trình bán hàng của doanh nghiệp ,hàng hoá vật chất dịch vụ
chuyển từ tổ chức đầu nguồn đến ngời sử dụng(khách hàng công nghiệp hoặc
ngời tiêu thụ cuối cùng)nh thế nào?
Một kênh phân phối có thể đợc hiểu là một tập hợp có hệ thống các phần tử
tham gia vào quá trình chuyển đa hàng hoá từ các nhà sản xuất hoặc tổchức
8
Ngời
sản
xuất
(tổ
chức
đầu
nguồn)
Ngời sử
dụng
sản
phẩm
Ngời bán
lẻ
Ngời bán
lẻ
Ngời bán
lẻ
Ngời
bán
buôn
C2
Người bán
buôn
C1
Ngời bán buôn
Lực lợng bán
hàng của doanh
nghiệp
Lực lợng bán hàng
Của doanh nghiệp
Lực lợng bán hàng của doanh nghiệp
Lực lợng bán hàng của doanh nghiệp
(1)
(2)(3)
(4)
đầu nguồn đến ngời sử dụng.Một cách tổng quát có thể mô tả các dạng kênh
phân phối của doanh nghiệp theo sơ đồ sau:
Hình 1: các dạng kênh phân phối
2.2 các dạng kênh phân phối
Các dạng kênh phân phối mà doanh nghiệp có thể sử dụng thờng đợc phân
loại và lựa chọn theo các tiêu thức trực tiếp /gián tiếp hay dài ngắn.
2.2.1 Theo tiêu thức trực tiếp / gián tiếp
Theo tiêu thức này, có 3 dạng kênh mà doanh nghiệp có thể lựa chọn để đa
vào phơng án thiết kế kênh phân phối của mình.
+ Kênh phân phối trực tiếp.
Trong dạng kênh này doanh nghiệp thơng mại không sử dụng ngời mua
trung gian để phân phối hàng hoá. Lực lợng bán hàng của doanh nghiệp (kể
cả đại lý hoa hồng) chịu trực tiếp bán hàng đến ngời sử dụng hàng hoá (ngời
mua công nghiệp đối với ngời sản xuất và ngời tiêu thụ cuối cùng đối với t
liệu tiêu dùng). Có thể mô tả dạng kênh này nh sau:
Hình2: Dạng kênh phân phối trực tiếp
9
Doanh nghiệp
đại lý
Lực lợng bán
hàng của
doanh nghiệp
Khách hàng (ngời sử dụng)
+ Kênh phân phối gián tiếp
Là dạng kênh phân phối hàng hoá mà trong đó doanh nghiệp bán hàng
của mình thông qua ngời trung gian (nhà buôn các cấp/ nhà bán lẻ). Tuỳ theo
từng trờng hợp, khách hàng trực tiếp của doanh nghiệp là nhà bán buôn hoặc
bán lẻ. Doanh nghiệp trực tiếp bán hàng cho ngời sử dụng hàng hoá.
Hình 3: dạng kênh phân phối dán tiếp
+ Kênh phân phối hỗn hợp
Đây là dạng kênh phân phối đợc xác lập dựa trên cơ sở sử dụng đồng thời cả
hai dạng kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp. Doanh nghiệp vừa tổ chức bán
hàng đến tận tay ngời sử dụng, vừa khai thác lợi thế trong hệ thống phân phối
của ngời mua trung gian. Dạng kênh này đợc mô tả nh sau:
Hình 4: Dạng phân phối hỗn hợp
10
Doanh nghiệp
Đại lý
Lực lợng bán
hàng của
doanh nghiệp
Các ngời mua trung gian
Khách hàng (ngời sử dụng)
Doanh nghiệp
Đại lý
Lực lợng
bán hàng
của doanh
nghiệp
Ngời mua
trung gian
Khách hàng Khách hàng
2.2.2 Theo tiêu thức dài ngắn
Để thiết kế kênh phân phối hàng hoá doanh nghiệp có thể lựa chọn
dạng kênh dài hoặc kênh ngắn và cũng có thể phối hợp cả hai dạng trên để có
phơng án kênh phù hợp .
+ Kênh phân phối ngắn
là dạng kênh phân phối trực tiếp từ doanh nghiệp đến ngời sử dụng sản phẩm
hoặc có sử dụng ngời mua trung gian nhng không có quá nhiều ngời trung
gian xen giữa khách hàng(ngời sử dụng) và doanh nghiệp .
+ Kênh phân phối dài
là kênh phân phối có sự tham gia của nhiều cấp ngời mua trung gian. Hàng
hoá của doanh nghiệp có thể đợc chuyển dần quyền sở hữu cho một loạt các
nhà buôn lớn đến nhà buôn nhỏ hơn rồi qua nhà bán lẻ đến tay ngời tiêu thu
cuối cùng.
Về nguyên tắc, doanh nghiệp có thể tuỳ ý lựa chọn dạng kênh phân phối mà
mình thích. Nhng điều đó có thể hạn chế khả năng bán hàng và hiệu quả của
doanh nghiệp. Cần nắm vững u nhợc điểm của các dạng kênh khác nhau và
đòi hỏi đáp ứng yêu câu từ phía khách hàng để lựa chọn kênh phân phối một
cách khách quan và khoa học.
2.3 Thiết kế hệ thống kênh phân phối của doanh nghiệp thơng mại
11
Thiết kế hệ thống kênh phân phối là quá trình kết hợp các quyết định về
địa điểm theo yếu tố địa lý và khách hàng để xác định và xây dựng phơng án
kênh phân phối của doanh nghiệp.
Để thiết kế đợc hệ thống kênh phân phối cần thực hiện các nội dung cơ bản
sau:
2.3.1 Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hởng đến sự lựa chọn kênh
phân phối của doanh nghiệp bao gồm
Trớc tiên là giới hạn địa lý của thị trờng, nghĩa là khoảng cách từ doanh
nghiệp đến nhóm khách hàng, các loại phơng tiện vận chuyển, chi phí vận
chuyển liên quan đến độ dài kênh phân phối và hiệu quả.
Các nhóm khách hàng trọng điểm - đặc điểm và yêu cầu của họ đối với sản
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp nh: quy mô lợng hàng, tính đa dạng của sản
phẩm, sự thuận tiện của quá trình giao nhận hàng, các dịch vụ khác
Lực lợng bán hàng của doanh nghiệp thực trạng và tiềm năng phát triển .
Các lực lợng ngời trung gian trên thị trờng khả năng đáp ứng và hoà nhập
hệ thống kênh doanh nghiệp.
Các mục tiêu trọng điểm của doanh nghiệp và mức độ thoả mãn nhu cầu của
khách hàng, lợi nhuận và phát triển thị trờng .
2.3.3 Xác định mục tiêu và tiêu chuẩn của hệ thống kênh phân phối
Các mục tiêu của hệ thống phân phối đợc xác định trên cơ sở mục tiêu
chung của doanh nghiệp và các mục tiêu cụ thể về bán hàng.
Mục tiêu của hệ thống kênh phân phối có thể xác định theo các định hớng cơ
bản
- Mức độ thoả mãn nhu cầu khách hàng về thời gian, địa điểm và các
dịch vụ bên cạnh sản phẩm hiện vật.
- Doanh số bán tổng quát cho từng nhóm sản phẩm, bán mới, duy trì hay
mở rộng doanh số.
- Tăng cờng khả năng chiếm lĩnh hay phát triển thị trờng.
- Giảm chi phí bán hàng hay điều chỉnh chi phí vận chuyển .
12
Tuỳ theo đặc điểm sản phẩm, đặc điểm kinh doanh và thị trờng, doanh nghiệp
có thể lựa chọn mục tiêu cho thích hợp. Mục tiêu có thể đợc định hớng theo
một trong các mục tiêu cơ bản trên đây để làm cơ sở cho việc thiết kế hệ
thống kênh phân phối. Tuy nhiên cũng cần lu ý đến mâu thuẫn có thể phát
sinh từ việc lựa chọn mục tiêu cho kênh phân phối. Một kênh phân phối có
thể đáp ứng yêu câu mục tiêu định hớng này nhng có thể lại không thoả mãn
yêu cầu mục tiêu định hớng khác. Bởi vậy, cần có sự cân nhắc kỹ lỡng khi
lựa chọn mục tiêu. tốt nhất nên có sự kết hợp yêu cầu đặt ra cho từng loại
định hớng mục tiêu cơ bản khi chọn mức độ đáp ứng mục tiêu định hớng. Sự
kết hợp này thờng kết hợp qua khả năng dung hoà giữa các mục tiêu bằng các
tiêu chuẩn kênh cụ thể .
2.3.3. Xác định kênh và phợng án kênh phân phối của doanh nghiệp thơng
mại .
Từ các dạng kênh phân phối cơ bản và u nhợc điểm của từng dạng kênh
đó ; từ các kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hởng đến yêu cầu và khả
năng thiết kế kênh phân phối ; kết hợp vơí các mục tiêu và tiêu chuẩn kênh
phân phối đã đợc xác định, doanh nghiệp có thể sẽ lựa chọn các loại kênh
phân phối sẽ đợc sử dụng trong kinh doanh .
2.3.4 Lựa chọn và phát triển các phần tử trong kênh phân phối
Các phần tử chủ chốt trong kênh phân phối gồm hai nhóm cơ bản ;
-Lực lợng bán hàng của doanh nghiệp
-Ngời mua trung gian
Tuỳ theo dạng kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp mà phần tử trong kênh
phân phối có trung gian hay không.
2.3.4.1. Lực lợng bán hàng cơ hữu
Lực lợng bán hàng cơ hữu
Lực lợng bán hàng cơ hữu của doanh nghiệp là tất cả các thành viên
trong doanh nghiệp có trách nhiệm trực tiếp đến hoạt động bán hàng. Lực l-
ợng bán hàng có thể chia thành lực lợng bán hàng tại văn phòng và lực lợng
bán hàng bên ngoài doanh nghiệp. Mỗi bộ phận thuộc lực lợng bán hàng cơ
13
hữu có vai trò trách nhiệm khác nhau trong hệ thống phân phối. Với cácdạng
kênh phân phối khác nhau vị trí của từng bộ phận cũng có thể thay đổi.
Quy mô lực lợng bán hàng cơ hữu có thể thay đổi ở từng dạng kênh và
từng phơng án phân phối khác nhau. Bởi vậy, cần có những quyết định cụ thể
để lựa chọn quy mô, thành viên của lực lợng bán cũng nh phát triển lực lợng
này.
Các đại lý bán hàng có hợp đồng
Bao gồm các tổ chức cá nhân độc lập không thuộc hệ thống tổ chức cơ
hữu của doanh nghiệp nhận bán hàng cho doanh nghiệp để hởng hoa hồng
bán hàng đã ký kết giữa hai bên. Bộ phận này đợc xác định thuộc lực lợng
bán hàng của doanh nghiệp bởi họ bán hàng điều kiện họ không mua hàng
của doanh nghiệp, hàng hoá không phải chuyển quyền sở hữu. Họ không đủ
yếu tố để đợc xác định nhóm hàng mua trung gian mặc dù họ cũng thuộc
nhóm ngời trung gian, họ là những ngời làm thuận lợi cho quá trình phân phối
bán hàng của doanh nghiệp.
2.3.2.2. Ngời mua trung gian trong kênh phân phối của doanh nghiệp.
Ngời mua trung gian bao gồm tất cả những ngời mua hàng của doanh
nghiệp để bán lại cho ngời khác nhằm kiếm lời: các nhà buôn lớn, các nhà
buôn nhỏ, các đại lý mua đứt bán đoạn và nhà bán lẻ. Khai thác ngời mua
trung gian trong hệ thống phân phối của doanh nghiệp phải giải quyết các vấn
đề sau:
Xác định dạng ngời mua trung gian
Xác định ngời mua trung gian trong hệ thống kênh phân phối liên quan
đến dạng kênh phân phối đã đợc lựa chọn của doanh nghiệp. ở các dạng kênh
khác nhau thì dạng ngời mua trung gian trong kênh phân phối sẽ khác nhau.
Vấn đề đặt ra ở đây là cần cụ thể hoá một cách chi tiết vị trí, nhiệm vụ của
từng dạng ngời khác mua trung gian trong hệ thống phân phối. Các doanh
nghiệp khác nhau và đối với dòng sản phẩm khác nhau, ngời mua trung gian
có thể đợc xác định khác nhau nhằm đảm bảo hiệu suất hoạt động của kênh.
14
Tơng ứng với vai trò và nhiệm vụ của từng dạng ngời mua trung gian
trong kênh phân phối, doanh nghiệp có thể đa ra các chính sách khuyến
khích, động viên và kiểm soát hoạt động của họ một cách thích ứng nhằm đạt
đơc mục đích xây dựng kênh và mục đích bán hàng của mình.
Lựa chọn ngời mua trung gian trong kênh phân phối
Mỗi dạng ngời mua trung gian bao gồm rất nhiều nhà kinh doanh(tổ
chức) độc lập. Đặc điểm của mỗi tổ chức trung gian độc lập thờng là rất khác
nhau về quy mô, tiềm lực uy tín trên thơng trờng, kinh nghiêm và tổ chức
quản lý Họ có thể là một tổ chức kinh doanh tổng hợp vừa bán buôn vừa
bán lẻ, kinh doanh nội địa và xuất nhập khẩu, kinh doanh nhiều ngành hàng
hay nhiều nhóm hàng hoặc tổ chức chuyên môn hoá Đặc điểm cụ thể của
mỗi tổ chức trung gian có thể ảnh hởng đến khả năng thực hiện khác nhau vai
trò đã đợc xác định của họ trong kênh phân phối của doanh nghiệp. Bởi vậy,
cần lựa chọn một cách chính xác ai trong số các ngời mua trung gian trên
từng thị trờng để định hớng đa vào làm thành viên kênh phân phối của doanh
nghiệp.
Để thực hiện nhiệm vụ này, doanh nghiệp phân tích và lựa chọn từ các
ngời mua trung gian hiện có trên thị trờng cha hoặc để tham gia vào kênh
phân phối của doanh nghiệp khác( kể cả đối thủ cạnh tranh) hoặc có thể là
những ngời hoàn toàn mới trong lĩnh vực lu thông.
Điều chỉnh hệ thống kênh phân phối
Hệ thống kênh phân phối không phải là bất biến. Các doanh nghiệp th-
ờng sử dụng hệ thống kênh phân phối với các thành viên trong kênh nh là một
truyền thống và ít quan tâm đến khả năng điều chỉnh kênh để đạt đến một
hiệu quả cao hơn. Điều này có thể ảnh hởng đến khả năng phát triển bán hàng
và hiệu quả mong đợi của doanh nghiệp. Sau khi đã đa các kênh phân phối
vào hoạt động, cần đảm bảo khả năng kiểm soát hoạt động của kênh và thờng
xuyên phân tích hiệu quả từng kênh bán cũng nh toàn bộ hệ thống. Đáng chú
ý là dạng kênh có thể ít thay đổi và mức độ đòi hỏi điều chỉnh không cao nếu
không có biến động lớn. Nhng, việc điều chỉnh các thành viên trong kênh
15

Kế toán vật liệu ở Cty đường bộ 230

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Với vật liệu tự sản xuất: tính theo giá thành sản xuất thực tế
- Với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: giá thực tế gồm giá trị vật liệu
xuất chế biến cùng các chi phí liên quan
- Vật liệu nhận đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia liên
doanh: giá thực tế là giá thoả thuận do các bên xác định cộng (+) với các chi phí
tiếp nhận (nếu có)
- Với phế liệu: giá thực tế là giá ước tính có thể sử dụng lại được hay giá trị
thu hồi tối thiểu
- Với vật liệu được tặng thưởng: giá thực tế tính theo giá thị trường tương
đương cộng (+) chi phí liên quan đến việc tiếp nhận
b Tính giá nguyên vật liệu xuất kho
Đối với vật liệu xuất dùng trong kỳ tuỳ theo đặc điểm hoạt độngcủa từng
doanh nghiệp vào yêu cầu quản lý và trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán có
thể sử dụng một trong các phương pháp sau theo nguyên tắc nhất quán trong
hạch toán:
 Phương pháp giá đơn vị bình quân: Theo phương pháp này giá trị
thực tế vật liệu xuất dùng trong kỳ được tính theo công thức:
Giá thực tế = Số lượng vật liệu x Giá đơn vị
vật liệu xuất dùng xuất dùng bình quân
Trong đó: Giá đơn vị bìn quân có thể tính theo 1 trong 3 cách sau:
Cách 1
Giá đơn vị bình
quân cả kỳ dự trữ
=
Giá thực tế vật liệu tồn dầu kỳ và nhập trong kỳ
────────────────────────────
Lượng thực tế vật liệu tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ
Cách tính này tuy đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không cao ảnh
hưởng đến công tác quyết toán nói chung
Cách 2
Giá đơn vị bình
quân cuối kỳ trứơc
=
Giá thực tế vật liệu tồn kho đầu kỳ (cuối kỳ trước)
────────────────────────────
Lượng thực tế vật liệu tồn kho đầu kỳ (cuối kỳ trước)
Học viên: Dương thị Duyên - Lớp KTTM 04G
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Cách này mặc dù khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động vật
liệu trong kỳ tuy nhiên không chính xác vì không tính đến sự biến động của giá
vật liệu kỳ này.
Cách 3
Giá đơn vị bình
quân sau mỗi lần
nhập
=
Giá thực tế vật liệu tồn kho sau mỗi lần nhập
────────────────────────────
Lượng thực tế vật liệu tồn kho sau mỗi lần nhập
Cách tính này khắc phục được nhược điểm của cả hai phương pháp trên
vừa chính xác, vừa cập nhật. Nhược điểm của cách này là tốn nhiều công sức,
tính toán nhiều lần.
 Phương pháp nhập trước xuất trước (Fi Fo)
Vật liệu nhập vào với giá nào trước tiên thì giá đó sẽ được xuất ra đầu tiên,
xuất hết theo giá của lô nhập trước mới xuất đến giá của lô nhập sau. Vật liệu
tồn kho là những vật liệu nhập kho sau cùng. Như vậy, nếu giá cả có xu hướng
tăngthì giá trị vật liệu tồn kho lớn, giá trị vật liệu xuất sử dụng nhỏ dẫn đến giá
thành thấp lợi nhuận cao và ngược lại
 Phương pháp nhập sau xuất trước ( Li Fo)
Tính giá vật liệu xuất kho trong điều kiện lô vật liệu nào được nhập kho sau
thì sẽ được xuất kho trước, lượng vật liệu xuất kho thuộc lần nhập nào thì tính
theo giá thực tế lần nhập đó. Phương pháp này ngược với phương pháp nhập
trước xuất trước
 Phương pháp thực tế đích danh
Vật liêu nhập kho theo giá nào thì xuất kho theo giá đó không tính đến thời
gian nhập và xuất kho. Áp dụng với các doanh nghiệp có ít loại mật hàng hoặc
mặt hàng ổn định và nhận diện được
Học viên: Dương thị Duyên - Lớp KTTM 04G
6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
III. Chứng từ thủ tục - phương pháp hạch toán nguyên vật liêu
1. Chứng từ sử dụng
Theo chế độ chứng từ kế toán qui định ban hành số 114/ TC /QĐ /TCKT
ngày 01/01/ 1995 của bộ trưởng bộ tài chính các chứng từ kế toán vật liệu bao
gồm
- Phiếu nhập kho ( mẫu 01 - VT)
- Phiếu xuất kho (mẫu 02 -VT)
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (mẫu 03 -VT)
- Hoá đơn kiêm vận chuyển xuất kho (mẫu 02 - BH)
- Biên bản kiểm kê vật tư sản phẩm hàng hoá (mẫu 08 - VT)
- Hoá đơn cước phí vận chuyển (mẫu 03- BH)
Ngoài các chứng từ mang tính chất bắt buộc sử dụng thống nhất theo qui
định của nhà nước, doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán
hướng dẫn như:
- Phiếu xuất vật tư theo hạn mức ( mẫu 04 - VT )
- Biên bẩn kiểm nghiệm vật tư, sản phẩm, hàng hoá ( mẫu 05- VT)
- Phiếu xuất kho vật tư còn lại cuối kỳ (mẫu 07 - VT)
2. Phương pháp hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
Tuỳ theo điều kiện kinh doanh cụ thể, yêu cầu và trình độ quản lý mà việc
ghi chép, phản ánh của thủ kho và kế toán cũng như việc kiểm tra đối chiếu số
liệu, hạch toán số liệu giữa kho và phòng kế toán được tiến hành theo 1 trong
các phương pháp sau
a Phương pháp thẻ song song:
- Ở kho: Thủ kho là người thực hiện và phản ánh số lượng vật liêụ nhập,
xuất, tồn trên thẻ kho
- Ở phòng kế toán: Nhân viên kế toán vật liệu mở sổ chi tiết vật liệu tương
ứng với thẻ kho, kế toán theo dõi, ghi chép cả về mặt lượng và mặt giá trị
- Trình tự ghi sổ:
Học viên: Dương thị Duyên - Lớp KTTM 04G
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu
Ghi cuối tháng
b Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
- Ở kho: Cũng mở thẻ kho theo dõi số lượng từng loại vật liệu
- Ở phòng kế toán: Mở sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép tổng hợp vật
liệu nhập, xuất, tồn cả về mặt số lượng và giá trị
- Trình tự ghi sổ:
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu
Ghi cuối tháng
Học viên: Dương thị Duyên - Lớp KTTM 04G
8
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Thẻ
hoặc
sổ
chi
tiết
vật

Bảng tổng
hợp nhập,
xuất, tồn
kho vật tư
Kê toán
tổng hợp
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ đối
chiếu luân
chuyển
Bảng kê xuất
Bảng kê nhập
Kế toán tổng
hợp
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
c. Phương pháp sổ số dư
- Ở kho: Thủ kho mở thẻ kho, căn cứ vào phiếu nhập kho, phiếu xuất kho
ghi vào mặt số lượng
- Ở phòng kế toán: Khi nhận được phiếu nhập, xuất kế toán tiến hành kiểm
tra và phân loại chứng từ rồi ghi đơn giá theo dõi về mặt giá trị để ghi vào bảng
luỹ kế nhập, xuất, tồn
- Trình tự ghi sổ:
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu
Ghi cuối tháng
IV. Kế toán tổng hợp vật liệu
1. Phương pháp hạch toán
Hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên
- Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh
tình hình hiện có, biến động tăng giảm nguyên vật liệu một cách thường xuyên,
liên tục trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho
Để hạch toán nguyên vật liệu kế toán sử dụng các tài khoản sau:
- Tài khoản 152: " Nguyên vật liệu" tài khoản này được dùng để theo dõi
giá trị hiện có, tình hình tăng giảm của các nguyên vật liệu theo giá thực tế, có
thể mở chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ…., tuỳ theo yêu cầu quản lý và
phương tiện tính toán
Học viên: Dương thị Duyên - Lớp KTTM 04G
9
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ số dư
Phiếu giao nhận
chứng từ nhập
Bảng luỹ kế nhập,
xuất, tồn kho
Phiếu giao nhận
chứng từ xuất
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Bên nợ: Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm tăng giá thực tế của nguyên
vật liệu trong kỳ ( mua ngoại, tự sản xuất, phát hiện thừa…)
Bên có: Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm giảm các nguyên vật liệu
trong kỳ theo giá thực tế ( xuất dùg, xuất bán, thiếu hụt…)
Dư nợ: Giá thực tế của nguyên vật liệu tồn kho
- Tài khoản 151: " Hàng mua đi đường"
Bên nợ: Phản ánh giá trị hàng đi đường tăng
Bên có: Phản ánh giá trị hàng đi đường kỳ trước đã nhập kho hay chuyển
giao cho các bộ phận sử dụng hoặc giao cho khách hàng
Dư nợ: Giá trị hàng đi đường (đầu và cuối kỳ)
Ngoài ra trong quá trình hạch toán kế toán còn sử dụng một số tài khoản
liên quan khác như: TK133, TK331, TK111, TK113
2. Sơ đồ hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai
thường xuyên
Sơ đồ hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai
thường xuyên
Học viên: Dương thị Duyên - Lớp KTTM 04G
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nợ 151 Có Nợ 152 Có Nợ 338 Có
Nhập kho VL đi đường Nguyên vật liệu thừa khi
kỳ trước kiểm kê
Nợ 333 Có Nợ 154 Có
Thuế nhập khẩu tính vào NVL xuất thuê ngoài
giá thành VL nhập kho chế biến
Nợ 411 Có Nợ 331 Có
Nhận cấp phát, nhận Giảm giá, hàng bán trả lại
Góp vốn liên doanh người bán
Nợ 338 Có Nợ 138, 334 Có
NVL thừa khi kiểm kê NVL thiếu khi kiểm kê
Nợ 154 Có Nợ 128, 222, 228
Có NVL chế biến
nhậpkho Xuất kho NVL góp vốn
NVL chế biến nhập kho Xuất kho NVL góp vốn
liên doanh
Nợ 412 Có
Nợ 412 Có
Đánh giá tăng vật liệu Đánh giá giảm vật liệu
Nợ 111, 112, 141 Có
VL mua ngoài nhập kho
Nợ 1331 Có
Thuế VAT
đầu vào
Học viên: Dương thị Duyên - Lớp KTTM 04G
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
PHẦN THỨ HAI
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY
ĐƯỜNG BỘ 230
I. TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY
Công ty đường bộ 230 là một doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành đường
bộ Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, hạch toán kinh tế độc
lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ, được mở tài khoản tại ngân hàng, được sử
dụng con dấu riêng
1- Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Là một trong những doanh nghiệp thành viên thuộc khu quản lý đường bộ
II cục đường bộ VIệt Nam. Trụ sở của công ty đặt tại Km 10 Quốc lộ 5 thuộc
xã Dương Xá - Gia Lâm - Hà Nội
Nhiệm vụ chính của công ty là XD& SC đường bộ phục vụ cho nhu cầu
giao thông vận tải của xã hội góp phần đáng kể vào việc tham gia, cải tạo, nâmg
cấp cơ sở hạ tầng như làm mới đường vào sân bay, bến cảng, mở rộng và nâng
cấp các tuyến quốc lộ 1, 2, 3, 5 ….
Công ty ngày càng có uy tín trên thị trường và đã đóng góp 1 phần không
nhỏ cho ngân sách nhà nước, tạo điều kiện chăm lo đời sống việc làm cho
người lao động. Trải qua quá trình xây dựng phấn đấu và trưởng thành tới nay
công ty đã không ngừng lớn mạnh vế mọi mặt
Doanh thu năm 2005 : 70.000.000.000
2- Tổ chức bộ máy quản lý
Việc tổ chức quản lý trong bất kỳ doanh nghiệp nào cũng rất cần thiết và
không thể thiếu được. Nó đảm bảo giám sát chặt chẽ tình hình sản xuất của
doanh nghiệp, nâng cao chất lượng công trình thi công ở công ty đường bộ 230,
công tác tổ chức quản lý khá hợp lý, toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty đều chịu sự chỉ đạo của Ban giám đốc
Học viên: Dương thị Duyên - Lớp KTTM 04G
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Trong đó: Giám đốc chịu trách nhiệm chung mọi mặt hoạt động sản xuất
kinh doanh
- Một phó giám đốc phụ trách công tác nội chính phụ trách đới sống công
nhân viên trong đơn vị
- Một phó giám đốc phụ trách kỹ thuật thi công, Một phó giám đốc chịu
trách nhiệm vế vật tư thiết bị máy móc công trình, trạm sản xuất bê tông, phụ
trách nội chi
- Các phòng ban chức năng:
+ Phòng tổ chức lao động hành chính
+ Phòng kế hoạch kỹ thuật
+ Phòng vật tư thiết bị
+ Phòng tài chính kế toán
Hiện nay biên chế của phòng kế toán có 6 CBCNV trong đó chức năng của
từng người như sau:
 Kế toán trưởng: Chịu trách nhiệm chung hướng dẫn chỉ đạo kiểm tra
các công việc do nhân viên kế toán thực hiện, phân công trách nhiệm
cho từng người và đông thời chịu trách nhiệm trước giám đốc và nhà
nước về các thông tin kế toán cung cấp
 Kế toán tổng hợp: Hàng tháng căn cứ vào các bảng kê và các chứng từ
có liên quan đến chứng từ ghi sổ sau đó vào sổ cái để lập cân đối kế
toán, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
 Kế toán vật tư: Có nhiệm vụ theo dõi chi tiết tổng hợp tình hình nhập,
xuất, tồn kho từng loại vật tư đồng thời cũng là kế toán tổng hợp hàng
tháng, quí có nhiệm vụ lên báo cáo kế toán
 Thủ quĩ: Có nhiệm vụ thu - chi và bảo quản tiền mặt ở công ty
 Kế toán ngân hàng: " Kế toán vốn bằng tiền và thanh toán " có chức
năng lập các phiếu thu - chi tiền mặt của công ty đồng thời cũng là kế
toán theo dõi tình hình tăng, giảm, khấu hao TSCĐ tính toán phân bổ
khấu hao hàng quí
 Kế toán tập hợp chi phí: Có nhiệm vụ tập hợp chi phí sản xuất phát
sinh, tính giát thành cho từng hạng mục, công trình xây dựng, thanh
Học viên: Dương thị Duyên - Lớp KTTM 04G
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
toán công nợ với các đơn vị thi công, với khách hàng, với cá nhân theo
dõi các khoản bảo hiểm, cuối tháng tổng hợp quyết toán với đơn vị cấp
trên
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ PHÒNG KẾ TOÁN
CƠ CẤU BỘ MÁY QUẢN LÝ CÔNG TY ĐƯỜNG BỘ 230
Học viên: Dương thị Duyên - Lớp KTTM 04G
14
Kế toán
vật tư
Kế toán trưởng
Kế toán
tổng hợp
Kế toán
ngân
hàng
Kế toán
tập hợp
chi phí
Thủ
qũi
Đội
CT 4
Ban giám đốc
Phòng
KTKH
Phòng
TCLĐ -
HC
Phòng
TCKT
Phòng
VTTB
Phòng
KTTT
Đội
CT 5
Đội cơ
giới 1
Xưởng
sửa
chữa
Đội
CT 2
Đội
CT 3