Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

đề xuất phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với xuất khẩu thuỷ sản


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đề xuất phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với xuất khẩu thuỷ sản": http://123doc.vn/document/1048137-de-xuat-phuong-huong-hoan-thien-quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-xuat-khau-thuy-san.htm


chức điều tra, nghiên cứu, đánh giá, quản lý và bảo vệ sự phát triển bền vững
nguồn lợi thủy sản, quản lý các khu bảo tồn nội địa, khu bảo tồn biển.
- Trách nhiệm quản lý, phát triển các họat động dịch vụ hậu cần ngành
thủy sản gồm các công việc: Quản lý, phát triển cơ khí thủy sản và hệ
thốngcảng cá, bến cátheo quy hoạch đợc cấp có thẩm quyền phê duyệt; Thống
nhất quản lý các dịch vụ cho khai thác nuôi tròng và chế biến trên biển.
- Trách nhiêm quản lý, phát triển thơng mại ngành thủy sản gồm các
công việc: Phối hợp với các Bộ liên quan xây dựng các chính sách thơng mại
ngành thủy sản để trình Thủ tớng Chính phủ quyết định. Nghiên cứu phát triển
thị trờng, phát triển công tác thông tin thị trờng, xúc tiến thơng mại, hỗ trợ các
doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thủy sản tìm kiếm và mở rộng thị trờng.
- Trách nhiệm tổ chức và phát triển các họat động khuyến ng, hớng dẫn,
phổ biến thông tin và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ nuôi trồng, đánh bắt,
chế biến, bảo vệ nguồn lợi và môi trờng các hệ sinh thái thủy sản.
- Trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phô trực thuộc Trung ơng tổ chức chỉ đạo: công tác phòng chống lụt bão; tìm
kiếm cứu nạn, an toàn đi biển và bảo hộ lao động trong ngành thủy sản; giữ
gìn trật tự an ninh quốc phòng trên biển.
- Trách nhiệm tổ chức chỉ đạo, thẩm định, giám định, kiểm tra và chịu
trách nhiệm về việc thực hiện có hiệu quả các dự án trong nớc và các dự án có
vốn đầu t nớc ngòai về thủy sản thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
- Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thủy sản theo quy định của
pháp luật.
- Trách nhiệm tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học,
ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới trong ngành thủy sản.
- Trách nhiệm trong việc đa ra các quyết định, các chủ trơng, biện pháp
cụ thế và chỉ đạo thực hiện cơ chế họat động của các tổ chức dịch vụ công
trong ngành thủy sản theo quy định của pháp luật; quản lý và chỉ đạo họat
động đối với các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ.
5
- Trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể thuộc quyền đại
diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nớc tại doanh nghiệp có vốn Nhà nớc thuộc
Bộ quản lý theo quy định của pháp luật.
- Trách nhiệm quản lý nhà nớc đối với hoạt động của các tổ chức kinh tế
tập thế và kinh tế t nhân, các hội và tổ chứ phi Chính phủ trong ngành thủy sản
thoe quy định của pháp luật.
- Trách nhiệm thanh tra, kiểm tra, giải quyết các khiếu nại tố cáo, chống
tham nhũng, tiêu cực và xử lý các vi phạm trong ngàng thủy sản.
- Trách nhiệm ra quyết định và chỉ đạo thực hiện chơng trình cái cách
hành chính cảu Nhà nớc đã đợc Thủ tớng Chính phủ phê chuẩn.
- Trách nhiệm quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, chỉ đạo thực hiện chế độ
tiền lơng và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thởng, kỷ luật đối với cán
bộ, công chức, viên chức nhà nớc thuộc phạm vi quản lý của Bộ; đào tạo , bồi
dỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nớc trong ngành
thủy sản.
- Trách nhiệm quản lý tài chính, tài sản đợc Nhà nớc giao và tổ chuc thực
hiện ngân sách đợc phân bổ theo quy định của pháp luật.
2.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nớc của Bộ Thủy sản:
- Các tổ chức giúp Bộ trởng Bộ Thủy sản thực hiện chức năng quản lý
nhà nớc ngành thủy sản:
+ Vụ Nuôi trồng thủy sản;
+Vụ Kinh tế tập thể và kinh tế t nhân;
+ Vụ Kế hoạch -Tài chính;
+Vụ Khoa học, công nghệ;
+Vụ Hợp tác quốc tế;
+Vụ Pháp chế;
+Vụ Tổ chức cán bộ;
+Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản;
+Cục Quản lý chất lợng, an toàn vệ sinh thú y thủy sản;
6
+Thanh tra Bộ;
+Văn phòng;
- Các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ:
+ Viện Nghiên cứu thủy sản;
+Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản;
+Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I;
+Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II;
+Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản III;
+ Trung tâm Khuyến ng quốc gia;
+Trung tâm Tin học;
+Báo Thủy sản;
+ Tạp chí Thủy sản;
Bộ Thủy sản đã ban hành các văn bản cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn của các tổ chức trên đây để tạo điều kiện cho các tổ chức này có
căn cứ pháp lý họat động.
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng , một số nơi có thành lập Sở
Thủy sản, chủ yếu là ở những địa phơng có ngành thủy sản phát triển mạnh,
hoặc có tiềm năngphát triển nuôi trồng, khai thác thủy sản; một số Bộ khac
nh Bộ Kế hoạch và đầu t, Bộ Tài chính đều có một vụ riêng thực hiện quản
lý nhà nớc về lĩnh vực chuyên môn của Bộ mình đối với ngành thủy sản. Bằng
việc tổ chức bộ máy và thực hiện phối hợp họat động giữa các cơ quan quản lý
nêu trên, tạo nên tổng thể bộ máy quản lý nhà nứơc đối với ngành thủy sản ở
nớc ta.
3. Các yếu tố ảnh hởng đến quản lý Nhà nứoc ngành thủy sản
3.1. Phạm vi nguồn lực mặt nứơc trải rộng tạo ra sự phức tạp đối với công
tác quản lý nhà nớc ngành thủy sản:
Yếu tố này sinh ra do sự phân bố tự nhiên các dịên tích mặt nớc có điều
kiện phát triển thỷ sản rất đa dạng và không đồng đều giữa các vùng; quy mô
7
về diện tích mặt nớc ở từng vùng, trữ lợng nớc trong mỗi sông, hồ, vùng mặt
biểnrất khác nhau. Vì vậy, đây là yếu tố tạo ra sự phức tạp lớn nhất đối với
quản lý nhà nớc các họat động thủy sản, thể hịên trên các mặt sau:
- Quản lý việc sử dụng nguồn nớc mặt không giống nhau, không thể hoặc
rất khó có quy định chung nhất về các điều kiện trong sử dụng nguồn nớc
hựop lý cho tất cả các vùng.
- Quản lý các quá trình tác động gây ô nhiễm nguồn nứoc khó chặt chẽ
do tính trải rộng và nhiều chủ thể cùgn tham gia sử dụng.
- Tính phù hợp về sinh thái cảu các loài thủy sản đối với từng vùng rất
khác nhau, không có công thức chung.
- Tình trạng biến động về môi trờng tự nhiên (bão, lụt, hạn rất khác nhau)
do đó ảnh hởng không giống nhau tới nguồn nớc của từng vùng).
3.2. Tính đa dạng vềcác nguồn thủy sản(nhiều giống, nhiều chủng loài
thủy sản với tính sinh học và yêu cầu về điều kiện sống khác nhau)
Yếu tố này gây ra những kho khăn cho công tác quản lý nhà nớc đối với
ngành thủy sản trên các mặt sau:
- Khó xác định các tiêu chuẩn cụ thể đối với từng loài thủy sản đợc phép
đa vào sản xuất.
- Khó xác định các điều kiện nhằm hạn chế tác động xấu đên nguồn nớc
trong quá trình tiến hành nuôi trồng thủy sản.
3.3. Hoạt động kinh tế thủy sản vừa mang tính tạo nguồn lợi( nuôi trồng)
vừa mang tính khai thác (đánh bắt). Yếu tố này đòi hỏi công tác quản
lý nhà nớc phải rất cụ thể, chi tiết đối với từng lọai họat động.
- Đối với họat động nuôi trồng: thực hiện việc quản lý nhà nớc phải trải
rộng từ khâu sản xuất giống; sản xuất thơng phẩm (thủy sản hàng hóa); phát
triển cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho các họat động này; quản lý các tác
động ảnh hởng của họat động nuôi trồng đến nguồn lới thủy sản và môi trờng
nớc.
- Đối với các họat động khai thác (đánh bắt) thì công tác quản lý nhà nớc
pảhi điều chỉnhcác họat động đóng mới và cải hóan phơng tiện đánh bắt;
8
phạm vi và quy mô khai thác; đa ra những quy định ràng buộc ngời tham gia
đánh bắt thủy sản với nghĩa vụ bảo vệ các nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
3.4. Lao động ngành thủy sản phần lớn là bộ phận dân c nghèo, kiến thức
và hiểu biết kỹ thuật nuôi trồng cũng nh đánh bắt hạn chế, do đó
Nhà nớc phải có trách nhiệm đào tạo, tập huấn những kiến thức cơ
bản cho họ.
Yếu tố này đòi hỏi công tác quản lý nhà nớc phải thực hiện những công
việc sau:
- Đa ra các điều kiện về tiêu chuẩn, kiến thức đối với những ngời tham
gia họat động nuôi trồng hoặc đánh bắt.
- Tổ chức các lớp đào tạo chuyên môn và cấp bằng hoặc chứng chỉ cho
từng lọai họat động với các trình độ chuyên môn khác nhau.
- Thiết lập các chơng trình hỗ trợ ngời nghèo trong nuôi trồng và đánh
bắt thủy sản.
4. Mục tiêu và nội dung cơ bản của quản lý nhà nớc về xuất khẩu thủy
sản:
4.1. Mục tiêu của quản lý nhà nớc về xuất khẩu thủy sản:
Mục tiêu của quản lý nhà nớc đối với xuất khẩu thủy sản là phải phát huy
đợc các thế mạnh của ngành, đó là sử dụng có hiệu quả cao nhất các diện tích
mặt nớc sẵn có do thiên nhiên tạo ra trong quá trình đa vào nuôi trồng thủy
sản nhằm mục đích kinh tế (sản xuất kinh doanh), (hoặc bảo tồn nguồn lợi tự
nhiên). Đối với diện tích mặt nớc sử dụng vào mục đích kinh doanh thì quản
lý nhà nớc có mục tiêu tạo ra khung pháp lý có vao trò điều chỉnh các họat
đọng nuôi trồng và đánh bắt sao cho đảm bảo vừa đạt hiệu quả kinh tế cao vừa
không làm tổn hại đến môi trờng thiên nhiên nh gây ô nhiễm họăc làm cạn
kiệt nguồn nớc dẫn đến không thể phát triển sản xuất kinh doanh bền vững.
Đối với diện tích mặt nớc sử dụng vào mục tiêu bảo tồn nguồn lợi thủy sản thì
quản lý nhà nớccó vai trò tạo khung pháp lý điều chỉnh các họat động của con
ngời sống tại chỗ và những ngời tham quan, du lịch đợc hởng lợi mà không
làm cho các nguồn lợi thủy sản tự nhiên bị mất đi hoặc bị tổn hại, đồng thời
tạo các điều kiện về vật chất, tinh thafn để không ngừng phát triển các nguồn
lợi thủy sản đã có và ngày một đa dạng hơn.
9
4.2. Nội dung cơ bản của quản lý nhà nớc về xuất khẩu thủy sản:
4.2.1. Thực hiện phân vùng qui hoạch nhằm phân bổ hợp lý nguồn lực
ngành thủy sản theo khả năng về điều kiện tự nhiên, sinh thái:
Mỗi quốc gia có các điều kiện tự nhiên đặc thù tạo ra tiềm năng để phát
triển ngành kinh tế thủy sản, đó là quy mô về diện tích mặt nớc nội địa và
diện tích mặt nớc biển có khả năng nuôi trồng hoặc khai thác các loài thủy
sản. Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, sinh thái Chính phủ Nhà nớc có vai trò
phân bổ những diện tích mặt nớc cụ thể vào phát triển thủy sản theo lợi thế tự
nhiên, băng việc thực hiện công tác quy hoạch và phân vùng phát triển thủy
sản. Đối với nuôi trồng thủy sản, công tác quy hoạch phát triển thủy sản phải
dựa vào việc đánh giá khả năng nguồn lợi thủy sản hiện tại và có thể phát triển
hơn trong tơng lai với các điều kiện về khả năng, đặc điểm nguồn nớc và lọai
thủy sản thích hợp có thể nuôi trồng phù hợp, từ đó đa ra những định hớng,
các chỉ báo vềcác giống thủy sản có thể đa vào sản xuất, có thể thuần chủng,
hoặc có thể nuôi kết hựop nhiều loài thủy sản káhc nhau trên cùng một diện
tích, trên một vùng sinh thái.
Đối với khai thác thủy sáng tự nhiên (trên các vúng nớc mặt biển hoặc
mặt nớc sông, hồ có diện tích lớn) thì công tác quản lý nhà nớc phải đa ra đợc
những chỉ báo về khả năng có thể khait hác tối đa trong khoảng thời gian nhất
định (một năm hoặc một số năm), các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đợc
tham gia đánh bắt và những nghĩa vụ phải tuân thủ mà Nhà nớc đã đa ra đối
với nhữgn ngời tham gia đánh bắt thủy sản.
4.2.2. Đề ra và thực hiện các biện pháp bảo vệ, duy trì và tái tạo các
nguồn lợi thủy sản, đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành thủy sản:
Đối với các họat động đánh bắt thủy sản tự nhiên, Chính phủ thực hiện
quyền bảo vệ nguồn lợi thủy sản thông qua việc:
- Đa ra các quy định hạn chế họat động khai thác quá mức dẫn đến cạn
kiệt nguồn lợi thủy sản trong thời gian nhất định hoặc lâu dài.
- Đa ra các quy định cấm đánh bắt thủy sản tự nhiên bằng các phơng tiện
và dụng cụ mang tính hủy diệt.
- Đa ra những tiêu chuẩn về kích cỡ từng lòai thủy sản hoặc trọng lợng
tối thiểu với từung cá thể thủy sản đợc phép khai thác.
10
Đối với họat động nuôi trồng thủy sản, Chính phủ có thể:
- Đa ra các quy định hạn chế về sử dụng nguồn nớc đa vào nuôi trồng
nhằm không dẫn đến làm cạn kiệt trữ lợng nớc.
- Đa ra những quy định hạn chế csc chất độc dẫn đến gây ô nhiễm từ các
họat động nuôi trồng.
4.2.3. Thực hiện kiểm tra các họat động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
của những ng ời sống và họat động trong nghề thủy sản:
Đối với họat động đánh bắt thủy sản tự nhiên , Chính phủ có thể thực
hiện kiểm tra , thanh tra trực tiếp các quá trình đánh bắt, xử lý bằng hành
chính và kinh tes casc trờng hợp vi phạm quy định đối với các họat động đánh
bắt.
Đối với họat động nuôi trồng, Chính phủ có thể tiến hành kiểm tra việc
tuân thủ nhữgn quy định về bảo vệ nguồn nớc, chống ô nhiễm, chống làm cạn
kiệt
4.2.4. Tạo dựng và phát triển các mối quan hệ quốc tế trong lĩnh vực
thủy sản:
Quản lý nhà nớc trong lĩnh vực này có vai trò:
- Tạo lập các quan hệ thơng mại, quan hệ buôn bán các sản phẩm thủy
sản và quan hệ trao đổi với các nớc nhập khẩu và xuất khẩu thủy sản.
- Nhập khẩu và phổ biến các giống thủy sản có chất lợng cao vào các
họat động nuôi trồng thủy sản trong nớc.
- Phối hợp với các nớc lân cận và trong khu vực cùng ảnh hởng để cùng
nhau thực hiện các giải pháp chugnv ề bảo vệ, phát triển các nguồn lợi thủy
sản, môi trờng; Phôi hợp với các nớc lân cận và trong khu vực cùng ảnh hởng
thực hiện các giải pháp an toàn đối với các họat động đánh bắt thủy sản trên
biển và khả năng phòng chống thiên tai nh bão, lốc
11
Chơng II:
phân tích thực tế về quản lý nhà nớc đối với
xuất khẩu thuỷ sản
1. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản.
Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tăng từ 307,7 triệu USD
năm 1992 lên 2.199,6 triệu USD năm 2003. Tỷ lệ tăng trởng xuất khẩu trung
bình hàng năm thời kỳ 1992 2003 là 20,4%, đây là tỷ lẹ tăng trởng khá cao.
Đặc biệt, năm 2000 tỷ lệ tăng trởng đạt 57,5% chủ yếu do xuất khẩu sang thị
trờng Mỹ tăng mạnh với tỷ lệ tăng trởng 132%. Trong 7 tháng đầu năm 2004
tăng trởng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam so với cùng kỳ năm 2003 đã đạt tỷ lệ
thấp nhất (0,7%) do tác động của vụ kiện phá giá tôm vào Mỹ, ngay từ quý
I/2004 giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ đã giảm 16,5% so với
cùng kỳ.
Bảng 1. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
Đơn vị : Triệu USD
1992 1994 1996 1998 2000 2001 2002 2003
KN XK thuỷ sản
Tỷ lệ tăng so với năm
trớc (%)
Tỷ trọng XK thủy sản
so với tổng KNXK
(%)
308
-
11,9
556
30,2
13,7
697
12,1
9,6
818
9,4
9,6
1479
57,5
8,7
1778
20,2
10,3
2023
13,8
11,0
2200
8,7
9,6
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nớc ta, thuỷ sản luôn duy
trì vị trí thứ 3 về kim ngạch từ nhiều năm nay sau xuất khẩu dầu thô và xuất
khẩu may mặc và là một tang những động lực thúc đẩy tăng trởng xuất khẩu
của cả nớc. Về tỷ trọng, kim ngạch xuất khẩu thủy sản so với tổng kim ngạch
xuất khẩu thuỷ sản cả nớc dao động từ 8,2% đến 13,7%. Nh vậy, tỷ trọng xuất
khẩu thuỷ sản so với tổng kim ngạch xuất khẩu chung của cả nớc hầu nh
không tăng trong giai đoạn 1992 2003, mặc dù xuất khẩu thuỷ sản luôn đạt
12
tốc độ tăng trởng cao. Điều này có thể lý giải bởi sự gia tăng nhanh chóng
trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của cả nền kinh tế.
Để thấy đợc sự phát triển trong xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong
những năm qua cần xem xét vị trí về kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt
Nam trên thị trờng thuỷ sản thế giới. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã từ
vị trí không đáng kể (1992) vơn lên vị trí thứ 9 (2001), thứ 8 (2002) trên thế
giới. Tỷ trọng của Việt Nam trong tổng kim ngachj xuất khẩu thuỷ sản của cả
thế giới đã tăng lên nhanh trong những năm vừa qua. Nếu nh 1992 tỷ trọng
của Việt Nam là 0,7% thì các con số đó là 1,2% (1994); 1,6% (1998); 3,2%
(2001).
Với tiềm năng về sản xuất thuỷ sản trải rộng trên phạm vi cả nớc, tham
gia vào hoạt động xuất khẩu thuỷ sản ở nớc ta hiện nay có 34 tỉnh và 3 tổng
công ty Nhà nớc xuất khẩu thuỷ sản. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu chủ yếu
tập trung vào 9 tỉnh và 1 tổng công ty xuất khẩu với mức kim ngạch xuất khẩu
của mỗi đơn vị hiện nay từ 50 triệu đến gần 400triệu USD/năm. Tỷ trọng kim
ngạch xuất khẩu của các tỉnh xuất khẩu chính nh sau: Cà Mau chiếm 16%
tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nớc; Sóc Trăng 11,5%; Thành phố
Hồ Chí Minh 9,6%; Bạc Liêu 7%; Khánh Hoà - 6,7%; Bà Rịa Vũng
Tàu 4%; Cần Thơ - 3,8%; An Giang 3,3%; Kiên Giang 2,9%; Tổng
công ty Thuỷ sản Việt Nam - 6%.
Nh vậy, 10 đơn vị này chiếm 70,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả n-
ớc đơn vị tỉnh xuất khẩu chủ yếu đều là các tỉnh phía Nam, trong đó có 8 tỉnh
thuộc Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
Phát triển mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam.
Quá trình phát triển kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản diễn ra đồng thời với
quá trình mở rộng các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu. Cách đây 18 năm, Việt
Nam hầu nh cha xuất khẩu cá, nhng đến nay xuất khẩu cá đã chiếm vị trí thứ 2
sau tôm. Các sản phẩm cá đợc xuất khẩu hiện nay bao gồm: 1) Theo môi trờng
sống có cá biển, cá nớc lợ, cá nớc ngọt dới các dạng; 2) Theo dạng sản phẩm
chế biến có cá tơi, cá đông lạnh, cá khô; 3) Theo qui cách sản phẩm có cá
nguyên con, cá philê, cá khúc Các sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu đợc đa
13
dạng hoá theo loài, dạng và qui cách sản phẩm phù hợp với nhu cầu nhiều vẻ
của thị trờng.
Về cơ cấu kim ngachj xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam theo sản phẩm
đã có sự biến đổi lớn trong thời gian 2 thập kỷ qua. Nếu nh năm 1986 kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản hầu hết là hàng đông lạnh, trong đó tôm chiếm tới
64%, cá hầu nh cha có thì đến các năm từ 1998 đến 2003 tuy tôm vẫn chiếm
tỷ trọng lớn nhất nhng đã giảm đi một cách rõ rệt. Tỷ lệ tôm xuất khẩu còn
43,8% trong năm 2001 và 48,1% trong năm 2003, trong khi cá đã chiếm
11,4% năm 1998 rồi 21,7% năm 2002. Bên cạnh đó, tỷ trọng kim ngạch xuất
khẩu các mặt hàng thuỷ sản khác đã tăng từ 15,3% năm 1998 lên 22,9% năm
2003. Cơ cấukim ngạch xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu 2004 tuy cha phản
ánh hết đợc cơ cấu năm 2004, nhng xuất khẩu tôm giảm xuống mức thấp
(29,8%) chủ yếu do vụ kiện bán phá giá tôm vào Mỹ. Tỷ trọng cá xuất khẩu
có xu hớng tăng mạnh vào 6 tháng cuỗi năm 2004.
14

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

Tài liệu TIỂU LUẬN: Tăng cường huy động vốn tại chi nhánh Sở giao dịch 1 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam docx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu TIỂU LUẬN: Tăng cường huy động vốn tại chi nhánh Sở giao dịch 1 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam docx": http://123doc.vn/document/1049038-tai-lieu-tieu-luan-tang-cuong-huy-dong-von-tai-chi-nhanh-so-giao-dich-1-ngan-hang-dau-tu-va-phat-trien-viet-nam-docx.htm




NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa
dạng nhất , đặc biệt là tín dụng , tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều
chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Ở nước ta , công nghiệp Ngân hàng hiện nay đang phát triển và bởi Ngân hàng là một
kênh trung gian quan trọng nên Nhà nước đã ban hành Luật các Tổ chức tín dụng nhằm
duy trì và vận hành có hiệu quả, trong đó có định nghĩa : “Ngân hàng thương mại là
doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp
luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi
và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”. (Theo điều 20 Luật
các Tổ chức tín dụng của Việt nam ban hành 02/ 1997/QH 10) .
1.1.2.Các hoạt động cơ bản của NHTM
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung
cấp các dịch vụ khác , các hoạt động cơ bản của Ngân hàng tác động qua lại lẫn nhau, hỗ
trợ, thúc đẩy tạo mối liên hệ mật thiết cùng giúp cho Ngân hàng tồn tại và phát triển ,
khái quát lại hoạt động của NHTM được chia ra làm 3 hoạt động chính : hoạt động huy
động vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động trung gian khác .
1.1.2.1.Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn của NHTM được thực hiện qua hành vi mở tài khoản để
thực hiện thanh toán cho khách hàng, hoặc huy động các loại tiền gửi có kì hạn, không kì
hạn của các tổ chức kinh tế, dân cư (huy động vốn một cách bị động), phát hành kì phiếu,
trái phiếu, đi vay các tổ chức tín dụng khác, vay NHTW (huy động vốn chủ động)
Trong đó tiền gửi là nguồn tiền quan trọng , chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn
tiền của Ngân hàng, qui mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác bao gồm tiền gửi
thanh toán của DN hoặc cá nhân , tiền gửi có kì hạn của các tổ chức kinh tế , xã hội, tiền
gửi tiết kiệm của dân cư, và tiền gửi của các Ngân hàng khác .Để gia tăng tiền gửi trong
môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao , các Ngân
hàng đã và đang đưa ra nhiều hình thức huy động với mức lãi suất hấp dẫn và các chương
trình khuyến mãi phong phú hơn.


Bên cạnh nguồn vốn huy động được từ tiền gửi các Ngân hàng thường phải đi vay
mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế. Các NHTM có
thể vay của NHNN dưới hình thức chủ yếu là được tái cấp vốn , tái chiết khấu , vay các
tổ chức tín dụng khác , vay trên thị trường vốn bằng cách phát hành các giấy nợ ( kì
phiếu , tín phiếu, trái phiếu ) .
Thông thường khi vay NHNN, các NHTM phải chịu các điều kiện kiểm soát chặt
chẽ để đảm bảo an toàn bởi vậy các NHTM thường có xu hướng vay các tổ chức tín
dụng khác hoặc phát hành các giấy nợ để đáp ứng nhu cầu vốn tức thời hay các khoản
vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và
đầu tư trung và dài hạn.
Ngoài các hoạt động huy động vốn trên NHTM còn thực hiện các dịch vụ ủy thác
như ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, …các hoạt động thanh toán không
dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn trong thanh toán như séc trong quá tình chi trả ,
tiền kí quỹ để mở L/C …. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM,
thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các Ngân hàng phải lập ra các dự án cho
từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay.
Như vậy, bằng nghiệp vụ huy động vốn có thể nói NHTM đã nắm trong tay một bộ
phận rất lớn của cải xã hội về mặt giá trị. Để huy động được số tiền như vậy, các NHTM
đã phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định, đó là tiền lãi phải trả cho người gửi tiền và
các chi phí quản lí khác.
1.1.2.2.Hoạt động sử dụng vốn
Khi đã huy động được nguồn vốn trong tay, để có thể tạo ra lợi nhuận, NHTM
phải tiến hành kinh doanh dưới hình thức sử dụng vốn huy động được , trong đó chủ yếu
là cấp tín dụng .
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các Ngân hàng nói riêng và của các
trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản , tạo thu nhấp từ
lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất. Thông thường lợi nhuận từ
hoạt động tín dụng chiếm tới 65- 70% trong tổng lợi nhuận của Ngân hàng. Nghiệp vụ tín
dụng có thể được phân loại bằng nhiều cách: theo thời gian có cho vay ngắn hạn, cho vay


trung hạn và dài hạn, theo hình thức đảm bảo có cho vay có đảm bảo, cho vay không có
đảm bảo, theo mục đích có cho vay bất động sản, cho vay thương mại, cho vay cá nhân,
cho vay nông nghiệp, cho vay thuê mua., theo hình thức có chiếu khấu, cho vay , bảo
lãnh và cho thuê
Ngoài nghiệp vụ tín dụng các NHTM còn sử dụng vốn huy động được vào các
nghiệp vụ khác như nghiệp vụ Ngânquỹ , nghiệp vụ đầu tư tài chính và nghiệp vụ khác.
Nghiệp vụ Ngânquỹ phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng vào với mục
đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng như khả năng thanh
toán nhanh của NHTM và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước
đề ra. Ngânquỹ (một phần dự trữ của Ngân hàng) bao gồm những tài sản thanh khoản
nhất của một Ngân hàng, được bổ sung thường xuyên từ các dòng tiền vào Ngân hàng
như gia tăng các khoản tiền gửi, vay, thu nợ, chứng khoán do Ngân hàng nắm giữ đến
hạn thanh toán… và cũng được sử dụng thường xuyên để chi trả tiền gửim cho vay, đầu
tư…
Bên cạnh đó các NHTM còn dùng số vốn huy động được từ dân cư, từ các tổ chức
kinh tế - xã hội để đầu tư vào nền kinh tế dưới các hình thức như : hùn vốn, góp vốn, kinh
doanh chứng khoán trên thị trường thực hiện các hoạt động king doanh như: kinh doanh
ngoại tệ, vàng bạc và kim khí, đá quý; thực hiện các dịch vụ tư vấn, dịch vụ Ngânquỹ;
nghiệp vụ uỷ thác và đại lý; kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm và trực tiếp thu lợi từ các
hoạt động đó.
1.1.2.3.Hoạt động trung gian khác
Ngoài hai hoạt động cơ bản trên NHTM cũng có thể tạo ra doanh thu cho mình
bằng việc các nghiệp vụ được phép như thanh toán, chuyển hộ tiền, tư vấn khách hàng
và thu phí dịch vụ . Hoạt động trung gian sẽ tạo cơ hội cho Ngân hàng tăng thu nhập.
hiện nay, các Ngân hàng không chỉ tìm kiếm nguồn thu trong hoạt động cho vay, mà
nguồn thu từ dịch vụ cũng ngày càng có xu hướng tăng. Bên cạnh đó, hoạt động trung
gian còn góp phần làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn, tăng tốc chu chuyển vốn,
giảm lượng tiền mặt trong lưu thông do đó tiết kiệm được chi phí lưu thông trong xã hội
và đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế… Thực hiện tốt hoạt động này, Ngân


hàng sẽ thu hút được ngày càng nhiều khách hàng, tạo điều kiện cho hoạt động huy động
vốn và cho vay, đầu tư của Ngân hàng.
1.2.Hoạt động huy động vốn của NHTM
1.2.1.Sự cần thiết của huy động vốn đối với NHTM
Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, NHTM muốn hoạt động được trước
hết phải có vốn. Nhưng NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh “tiền tệ” do đó,
nhu cầu về vốn của NHTM là rất lớn và việc tao vốn cho Ngân hàng là vấn đề quan trọng
hàng đầu trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
Xuất phát từ định nghĩa :“ Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ
do bản thân Ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư
hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác ” có thể hiểu được vốn chính là cơ sở để
NHTM hoạt động kinh doanh .
Đối với Ngân hàng , vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là
đối tượng kinh doanh chủ yếu. Ngân hàng là tổ chức loại hàng hóa đặc biệt, hoạt động có
bản nhất của Ngân hàng là huy động vốn để cho vay và là hoạt động mang lại phần lợi
nhuận cho Ngân hàng . Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là tất cả các nguồn tài
chính mà Ngân hàng có thể sử dụng để tổ chức và thực hiện các hoạt động kinh doanh
của mình. Vì vậy, Ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong
suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình thông qua nghiệp vụ huy động vốn .
Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản của các Ngân hàng hay còn gọi là nghiệp vụ
tạo vốn với nhiều hình thức đa dạng, phong phú nhằm thu hút vốn từ các tổ chức và cá
nhân trong nền kinh tế để phục vụ mục đích kinh doanh của mình. Hoạt động huy động
vốn Ngân hàng đem lại thu nhập cho người gửi tiền và làm đa dạng hóa danh mục đầu tư
của những người có tiền. Thông qua hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn của mình
Ngân hàng giúp nguồn vốn được luân chuyển từ người có vốn sang người cần vốn
.Chính sự kết hợp giữa nghiệp vụ huy động vốn, sử dụng vốn và dịch vụ trung gian đã
giúp cho Ngân hàng có thể tập trung và phân bổ lại các nguồn lực trong xã hội một cách
có hiệu quả đồng thời giảm chi phí vốn cho nền kinh tế .


Bên cạnh đó đối với Ngân hàng, nhờ hoạt động huy động vốn mà uy tín, quy mô
cũng như lợi thế cạnh tranh của Ngân hàng trên thị trường được nâng cao. Một Ngân
hàng mà tổng nguồn vốn huy động ngày càng được gia tăng, đặc biệt là vốn dài hạn thì
càng khẳng định được vị thế và sức cạnh tranh của Ngân hàng. Cũng bởi hai hoạt động
huy động và sử dụng vốn của NHTM liên quan mật thiết với nhau nên vốn của Ngân
hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp quy mô tín dụng của Ngân hàng đó. Ngân
hàng có quy mô lớn thì các khoản mục đầu tư và cho vay đa dạng, phạm vi và khối lượng
cho vay lớn . Vốn quyết định năng lực thanh toán của Ngân hàng và đảm bảo uy tín. Uy
tín đó thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng , khả năng sẵn
sàng cung cấp các dịch vụ đa dạng và chất lượng cao, muốn vậy, NHTM phải có lượng
vốn dồi dào, linh hoạt. Một NHTM có nguồn vốn lớn là điều kiện thuận lợi trong việc
mở rộng quan hệ tín dụng đối với mọi thành viên kinh tế, chủ động thời gian và thời hạn
cho vay, giúp đỡ Ngân hàng có đủ khả năng kinh doanh đa năng trên thị trường. Các hình
thức kinh doanh đa năng sẽ góp phần phân tán rủi ro, tạo thêm vốn và tăng sức cạnh tranh
của Ngân hàng.
Vì vậy, công tác huy động vốn là một hoạt động luôn cần sự chú trọng của Ngân
hàng . Từ đó các NH cần xác định qui mô, phương thức huy động vốn tốt nhất để đáp
ứng được nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế cũng như nâng cao sức cạnh tranh của
Ngân hàng trên thương trường.
1.2.2.Các hình thức huy động vốn của NHTM
1.2.2.1.Căn cứ theo thời gian
Căn cứ theo thời gian là một cách phân loại các hình thức huy động vốn của
NHTM , để từ đó NHTM có thể điều chỉnh kì hạn cho vay phù hợp với khả năng của
Ngân hàng cũng như đảm bảo an toàn cho nguồn vốn .Theo thời gian huy động vốn của
NHTM được chia thành :
* Huy động vốn ngắn hạn : đây là hình thức huy động chủ yếu trong các Ngân
hàng thương mại thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền
tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán thường là các khoản tiền
có thời hạn dưới 1 năm mà Ngân hàng áp dụng để huy động vốn ngắn hạn trên thị trường.


Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn huy động được của
Ngân hàng ngắn và thường nhạy cảm với các biến động về lãi suất , tỷ giá, thu nhập , chu
kì chi tiêu và nhiều nhân tố khác. Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn
thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém.
* Huy động vốn trung hạn : nguồn vốn huy động trung hạn có kì hạn từ 1 đến 5
năm , được NHTM thường dùng để phục vụ cho nhu cầu cho vay trung , dài hạn nguồn
vốn này thuận tiện và có tính ổn định hơn nguồn ngắn hạn mặc dù lãi suất cao hơn
.Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để NHTM thực hiện các hoạt
động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao.
* Huy động vốn dài hạn : đây là nguồn vốn huy động có kì hạn từ 5 năm trở lên ,
được dùng cho các dự án đầu tư dài hạn mang tính khả thi. Đây là nguồn vốn ổn định mà
Ngân hàng huy động được, nhưng các Ngân hàng cũng phải trả mức lãi suất cao hơn cho
những khoản vốn này.
1.2.2.2.Căn cứ theo đối tượng huy động
* Vốn huy động từ dân cư : Các tầng lớp dân cứ đều có các khoản thu nhập tạm
thời chưa sử dụng ,điều này tạo ra nguồn vốn có tiềm năng lớn và nhìn chung là khá ổn
định đối với Ngân hàng. Người dân có thu nhập gửi tiền vào Ngân hàng nhằm thực hiện
mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm Khi thu nhập và đời sống của
con người được nâng lên thì ngày càng có nhiều cá nhân mở tài khoản tiền gửi tại Ngân
hàng và thực hiện các giao dịch, thanh toán qua Ngân hàng. Do vậy, tài khoản tiền gửi cá
nhân cũng góp phần tăng cường nguồn vốn tín dụng cho các Ngân hàng thương
mại.Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm từ dân cư, các NHTM đều cố gắng
khuyến khích dân cứ thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng
mạng lưới huy động , đưa ra các hình thức huy động đa dạng , lãi suất hấp dẫn cùng với
các chương trình khuyến mãi phong phú .
* Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế , xã hội : Đây là nguồn huy động quan
trọng , chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn. Vốn huy động của NHTM từ các tổ
chức kinh tế là số tiền tạm thời nhàn rỗi, là lượng tiền vừa được tạo ra trong quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng chưa có nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp,


hay là số tiền được sử dụng cho những mục tiêu định sẵn vào một thời điểm nhất định
được gửi tại Ngân hàng với nhiều mục đích khác nhau .
Ngày nay các dịch vụ của NHTM ngày càng phát triển và dần trở nên phổ biến
bởi vậy để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay
nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong Ngân hàng .Do chu kỳ rút tiền của các doanh nghiệp
và các tổ chức xã hội không giống nhau.nên Ngân hàng luôn có một khoản tiền lớn để có
thể sử dụng một cách tương đối thuận lợi. Tuy nhiên độ lớn của khoản tiền này phụ
thuộc nhiều vào các dịch vụ, các tiện ích mà Ngân hàng mang lại khi khách hàng sử dụng
các dịch vụ. Điều này khiến cho việc huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức
xã hội gắn liền với việc mở rộng, cải tiến các dịch vụ Ngân hàng.
* Vốn huy động từ Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác : Bên cạnh việc
huy động vốn từ các tổ chức kinh tế , xã hội và dân cư , NHTM còn có thể huy động vốn
bằng hình thức đi vay các NHTM khác , NHTW và các tổ chức tín dụng . Trong đó
NHTW đóng vai trò là người cho vay cuối cùng để cứu cho các Ngân hàng thương mại
khỏi các trục trặc xảy ra. Huy động vốn từ các NHTM và các tổ chức tín dụng khác số
lượng thường không nhiều và chi phí huy động thường cao hơn ,tuy nhiên nó cũng hết
sức cần thiết để đáp ứng nhu cầu chi trả cấp bách khi tạm thời thiếu hụt nguồn dự trữ và
trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ NHNN vì khi
vay từ NHNN ,các NHTM phải tuân thủ các điều kiện cấp tín dụng chặt chẽ từ phía
NHNN trong khi đó các Ngân hàng có thể vay mượn từ các tổ chức tín dụng khác một
cách dễ dàng hơn.
Ngoài ra trong quá trình hoạt động, các NHTM cũng làm tăng nguồn vốn huy
động thông qua các hoạt động gửi tiền lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh
toán hay khi thực hiện chức năng trung gian thanh toán hoăc làm đại lý, tiếp nhận vốn
tài trợ ủy thác, đầu tư…
1.2.2.3.Căn cứ theo hình thức huy động
* Huy động qua tiền gửi :
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng , chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của
Ngân hàng , và là cơ sở để từ đó NHTM tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh tăng lợi


nhuận cho mình . Để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt , các NHTM
đang chạy đua trong việc thu hút tiền gửi thông qua các hình thức huy động phong phú và
dịch vụ đa dạng kèm theo.
+ Tiền gửi thanh toán ( tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán ). khách hàng
gửi tiền phần lớn là những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn
bán phải thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ liên tục .Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là
để sử dụng các dịch vụ Ngân hàng nên mức lãi suất mà Ngân hàng trả cho người gửi tiền
là rất thấp, thậm chí không phải trả lãi , thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các
dịch vụ của Ngân hàng với mức phí thấp .
Đây là loại tiền gửi mà Ngân hàng phải có trách nhiệm thỏa mãn nhu cầu rút ra
của khách hàng vào bất cứ lúc nào khách hàng cần ngay cả khi NHTM gặp khó khăn về
thanh khoản hay bị ảnh hưởng từ khó khăn của thị trường vốn .Một số Ngân hàng sử
dụng nhiều hình thức “ biến tướng “ của tài khoản thanh toán nhằm nâng lãi suát để cạnh
tranh với các Ngân hàng khác .
Ở các nước phát triển tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt khá cao , trong khi ở
những nước đang phát triển như Việt Nam tỷ lệ này lại rất thấp do điều kiện cơ sở vật
chất chưa đáp ứng được nhu cầu thanh toán ngày càng tăng của người dân .Điều này đòi
hỏi các NHTM phải nghiên cứu để đưa ra các dịch vụ đa dạng hấp dẫn hơn cùng với các
kênh phân phối rộng rãi linh hoạt hơn đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền.
+ Tiền gửi có kì hạn : Tiền gửi thanh toán tuy thuận tiện cho hoạt động giao dịch
thanh toán nhưng lãi suất lại rất thấp , để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền
NHTM đã đưa ra hình thức tiền gửi có kì hạn .Đây là loại tiền gửi mà khi gửi tiền vào có
sự thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng về thời hạn rút tiền. Người gửi tiền không
được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với tiền
gửi này .Chính vì tiền gửi có kỳ hạn nhất định dựa trên sự thoải thuận giữa NH và KH ,
nên nó là nguồn vốn mang tính ổn định và Ngân hàng có thể sử dụng loại tiền gửi này
một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh. Do NH có thể sử dụng nguồn tiền này dễ
dàng để hoạt động kinh doanh nên tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cao hơn và tùy
theo độ dài của kỳ hạn , kỳ hạn càng dài thì mức lãi suất càng cao .Người gửi tiền ngoài


mục đích sử dụng các dịch vụ Ngân hàng còn có mục đích kiếm lời. Do đó, sự thay đổi
lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và rõ nét đối với nguồn vốn huy động của Ngân hàng.
+ Tiền gửi tiết kiệm : Tiền gửi tiết kiệm được lập ra để thu hút vốn của những
người muốn dành riêng một khoản tiền cho những mục tiêu hay cho một nhu cầu về tài
chính được dự tính trong tương lai. Tiền gửi tiết kiệm cũng có 2 loại đó là: Tiết kiệm có
kỳ hạn và tiết kiệm không có kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: đây là khoản tiền tiết kiệm mà khách hàng có
thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào mà không phải báo trước cũng gần giống như tiền gửi không
kỳ hạn . Nguồn vốn này mang lại cho Ngân hàng nguồn vốn ổn định hơn so với tiền gửi
giao dịch mặc dù NH phải trả lãi suất cao hơn .
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại hình tiết kiệm phổ biến và quen thuộc
. Người gửi tiền gửi vào Ngân hàng và rút ra sau những thời hạn xác định: 3 tháng, 6
tháng., 9 tháng Người gửi phải tuân thủ đúng nguyên tắc không được rút trước hạn ,
nếu rút trước hạn thì sẽ bị phạt với lãi suất phạt NH đưa ra .Đây là nguồn vốn mang tính
ổn định cao cho nên Ngân hàng phải trả chi phí huy động gần như cao nhất . Hiện nay, để
tăng sức cạnh tranh, thu hút được vốn các Ngân hàng đã rất linh hoạt trong việc khách
hàng rút ra trước thời hạn. Có Ngân hàng thì tính lãi cho khách hàng với lãi suất không
kỳ hạn, có Ngân hàng vẫn tính với lãi suất đó với số ngày gửi thực tế
Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm , các NH đều đang cố gắng khuyến
khích dân cư thay đổi thoái quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng
lưới huy động , đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất hấp dẫn hoặc có thể
mở cho mỗi người tiết kiệm nhiều chương mục tiết kiệm cho mỗi lần gửi khác nhau .Sổ
tiêt kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụ nhưng có thể thế chấp để
vay vốn với sự đồng ý của NH.
* Huy động qua nghiệp vụ đi vay :
+ Vay NHNN : Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả
của NHTM , trong trường hợp thiếu hụt dự trữ . Với vai trò là người cho vay cuối cùng
NHTW cấp tín dụng cho NHTM dưới hình thức tái chiết khấu ( tái cấp vốn ) .Khi cần
tiền các NHTM mang những thương phiếu đã được chiết khấu lên tái chiết khấu tại


NHNN .NHNN điều hành vay mượn một cách chặt chẽ , và chỉ tái chiết khấu đối với các
thương phiếu có chất lượng . Việc cho vay này cũng gặp phải một số khó khăn khi
NHNN đưa ra các quy định đảm bảo và kiểm soát nhất định và cũng phải tùy thuộc vào
chính sách tiền tệ từng thời kỳ .
+ Vay các tổ chức tín dụng khác : Khi gặp khó khăn về việc chi trả do quy định
tăng mức dự trữ của NHNN ,tăng cường cho vay hay xuất hiện các nhu cầu rút tiền ồ ạt
của người gửi tiền các NHTM sẽ vay mượn lẫn nhau để đảm bảo khả năng thanh khoản
tạm thời .Qui trình vay mượn rất đơn giản , các khoản vay có thể không cần đảm bảo
hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc , điều này có thể xây dựng trên cơ
sở các mối quan hệ tốt giữa các NH với nhau .
* Huy động trên thị trường vốn :
Các NHTM cũng tiến hành vay mượn trên thị trường vốn bằng cách phát hành các
giấy tờ có giá : kì phiếu , trái phiếu , chứng chỉ tiền gửi .Thông thường đây là khoản vay
không có tài sản đảm bảo , các NH vay mượn dựa trên uy tín và lãi suất cạnh tranh .Đặc
điểm chung của loại vốn này là lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm. Mục đích huy động là
để đầu tư cho các dự án lớn. Đây là khoản tiền Ngân hàng đi vay, nguồn vốn này được
huy động với nhiều kì hạn khác nhau như: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
+ Kỳ phiếu Ngân hàng: Kỳ phiếu là một loại chứng khoán, trong đó người ký phát
cam kết sẽ trả một số tiền nhất định vào một ngày nhất định cho người hưởng lợi được
chỉ định trên lệnh phiếu hoặc theo lệnh của người hưởng lợi trả cho một người khác .Đó
là một loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do Ngân hàng phát hành chủ yếu là để phục vụ cho
những phương án kinh doanh xác định của Ngân hàng ,đây là hình thức huy động có ưu
thế hơn so với công cụ trái phiếu bởi nó có kỳ hạn ngắn hơn và lãi suất cao hơn lãi suất
tiết kiệm, nó được sử dụng tùy vào tình hình cụ thể của vốn Ngân hàng
+ Trái phiếu Ngân hàng: Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của NH phát
hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của
trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định .Trái phiếu là một
trong nhiều loại công cụ vay nợ dài hạn trên thị trường vốn. Nguồn vốn này mang tính ổn
định cao về thời gian sử dụng, do đó, nó cho phép Ngân hàng có được lượng vốn dài hạn

Toán -Vũ Hoàng Phương


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Toán -Vũ Hoàng Phương": http://123doc.vn/document/541730-toan-vu-hoang-phuong.htm


Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam
Độc lập Tự do Hạnh phúc
________________________
Bản cam kết
I. Tác giả:
Họ và tên: Vũ Hoàng Phơng
Sinh ngày 04 tháng 02 năm 1978
Đơn vị: Trờng THCS Vinh Quang Tiên Lãng Hải Phòng
Điện thoại: 0313 882395 Di động : 0914466380.
Email: HoangPhuong1978@gmail.com
II. sản phẩm
Tên sản phẩm: Một số vấn đề dạy học theo hớng tích cực hóa hoạt
động học tập môn toán của học sinh THCS.

III. Cam kết.
Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là sản phẩm của cá nhân
tôi. Nếu có xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với một phần hay toàn bộ
sản phẩm sáng kiến kinh nghiệm, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trớc lãnh
đạo đơn vị, lãnh đạo sở GD & ĐT về tính trung thực của bản cam kết này.
Hải Phòng, ngày 4 tháng 01 năm
2009
Ngời cam kết

Vũ Hoàng Phơng
3
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
Danh sách các sáng kiến kinh nghiệm đã viết
st
t
Tên sáng kiến kinh nghiệm Thể
loại
Năm viết
1
Phơng trình nghiệm nguyên Toán 2005-2006
2
Rèn luyện kĩ năng suy luận cho học sinh trong
việc học môn Toán ở trờng THCS.
Toán 2006-2007
3
Đổi mới phơng pháp dạy học một số định lý
Toán học ở trờng THCS.
Toán 2007-2008
4
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
Phần I. Đặt vấn đề
1. Tính cấp thiết
Việc hình thành và phát triển thói quen, khả năng phuơng pháp tự học, tự phát
hiện, tự giải quyết vấn đề, tự ứng dụng kiến thức và kĩ năng tích luỹ đợc của mỗi cá
nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thói quen và khả năng, phơng pháp nói trên
phải đợc hình thành và rèn luyện ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trờng.
Việc đổi mới phơng pháp dạy học môn toán cũng đòi hỏi cấp thiết, yêu cầu
giáo viên phải chọn đợc các phơng pháp thích hợp để truyền thụ kiến thức cho học
sinh bằng con đờng ngắn nhất, khoa học nhất mà học sinh nắm đợc các kiến thức của
bài học. Tích cực hoá gắn liền với động cơ hoá, với sự kích thích hứng thú, với sự tự
giác nhận trách nhiệm. Tích cực trớc hết là tích cực t duy và phải đợc qua hành động,
đây là t duy phát hiện và giải quyết vấn đề.
2. Mục đích nghiên cứu
Dạy học theo hớng tích cực hóa để thay đổi nhiều mặt, nhiều khâu, phơng
pháp để phù hợp với nội dung, chơng trình đổi mới của sách giáo khoa và các thiết
bị dạy học hiện đại hiện nay nh giáo án điện tử, máy chiếu, các thiết bị trợ giúp )
3. Kết quả cần đạt đợc
Việc dạy học theo hớng tích cực hoá hoạt động của học sinh phải đạt những
yêu cầu cấp thiết về đổi mới phơng pháp dạy học trong đó dới sự tổ chức hớng dẫn
của giáo viên, học sinh tự giác chủ động tìm tòi, phát hiện, giải quyết nhiệm vụ nhận
thức và có ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức, kỹ năng đã thu nhận đ -
ợc.
4. Đối tợng, phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
a. Đối tợng, phạm vi:
Giáo viên dạy toán, học sinh lớp 8A, 8B, 7A, 7C.
b. Kế hoạch:
Thời gian nghiên cứu: Năm học 2006 2007; 2007-2008
5
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
Phần II. Nội dung
I. cơ sở lí luận, thực trạng và các giảI pháp
1. Giáo viên cần nắm vững kiến thức cơ bản của từng tiết dạy
Dạy bất cứ khái niệm nào, định lý nào cũng cần biết con đờng hình thành khái
niệm đó, định lý đó.
Ví dụ: - Khái niệm hình chữ nhật đợc hình thành từ việc trừu tợng hoá mặt
bảng, mặt bàn. Khái niệm hình chữ nhật cũng đợc suy diễn từ hình bình hành hoặc từ
hình thang cân.
- Tính chất hình chữ nhật có thể đợc phát hiện trực quan do quan sát, đo
đạc. Tính chất hình chữ nhật đợc chứng minh, suy diễn từ tính chất hình bình hành và
hình thang cân.
- Định lý Pitago là một quan hệ về độ dài các cạnh trong một tam giác
vuông. Định lý Pytago đợc mở rộng theo hớng "bộ ba số Pytago", đó là các bộ số
chẳng hạn (3, 4, 5), (5, 12, 23), (6, 8, 10), (8, 15, 17) Nhng định lí Pytago cũng cần
đợc nhận thức bằng minh hoạ hình học: "Trong tam giác vuông, diện tích hình vuông
dựng trên cạnh huyền bằng tổng diện tích hai hình vuông dựng trên cạnh góc vuông.
Theo hớng này, có thể dẫn dắt HS chứng minh định lý Pytago bằng "diện tích".
Trên hình vẽ này:
* ABC là tam giác vuông tại A
* ABFG, ACIH, BCDE là những hình vuông.
* AN // BE.
* Các điểm thẳng hàng là: (F, G, M, N), (E, B, M), (J, K, A, N).
Trình tự chứng minh.
1. CMR tứ giác ABMN là hình bình hành.
2. CMR tứ giác BKJE là hình chữ nhật.
3. CMR diện tích (ABJE) = diện tích (ABMN)
4. CMR ABC = FBM
6
a
2
+
2
b
2
+
2
c
2
+
2
c
a
b
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
và diện tích (ABMN) = diện tích (BKJE)
suy ra diện tích (ABFG) = diện tích (BKJE)
5. Tơng tự, CMR diện tích (ACIH) = diện tích (KCDJ)
6. CMR diện tích (BCDE) = diện tích (ABFG) + diện tích (ACIH).
tức là BC
2
= AB
2
+ AC
2
2. Giáo viên phải coi trọng việc rèn luyện HS thực hiện các thao tác
vật chất cần thiết để nhận thức toán học.
Ví dụ 1: Nếu sử dụng phơng pháp trực quan, quy nạp để dạy định lý Pytago thì có
thể cho HS kiểm nghiệm tính chất Pytago bằng hoạt động vẽ, cắt, ghép, dán sau.
Trên hình vẽ này
7
H
Q
I
C
K
J
D
E
B
F
G
M
M
N
A
F
B
E
D
C
I
A
J
G
H
K
L
b
a
e
d
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
* Tam giác ABC vuông góc tại A
* BCDE, ACIH, AGFB, là những hình vuông.
* E, B, J thẳng hàng, D, C, K thẳng hàng, KL // BC
Có thể vẽ hình với kích thớc AB = 6cm, AC = 8 cm
hoặc AB = 5 cm, AC = 12 cm.
Hỏi: * Với các mảnh a, b, c, d, e cắt từ các hình vuông ACIH và AGFB có thể
ghép thành hình vuông BCDE không?
* Nêu nhận xét sau khi đã kiểm nghiệm.
Ví dụ 2: Để học ghép cộng phân số có thể cho HS thực hiện trò chơi sau Cho hình
vuông bằng giấy cứng cạnh 8 cm, vẽ và cắt 7 mảnh a, b, c, d, e, f, g để thực hiện trò
chơi.
Viết diện tích các mảnh dới dạng phân số (mẫu số là diện tích hình vuông lớn
cạnh 8 cm)
a = . . . e = . . .
b = . . . f = . . .
c = . . . g = . . .
d = . . .
Với các mảnh có thể ghép thành các hình khác nhau. Hỏi hai hình dới đây có diện
tích là bao nhiêu? (biểu thị bằng một phân số của hình vuông lớn cạnh 8 cm)
diện tích A = diện tích B =
8
c
d
g
e
f
b
a
d
B
e
b
g
f
g
A
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
Ví dụ 3: Dạy về bất đẳng thức tam giác, trớc khi phát biểu quan hệ và chứng minh
suy diễn, có thể cho HS đo đạc, phát biểu nhận xét.
Trong các hình vẽ sau:
Hãy:
1. Đo các đoạn thẳng AB, BC, AC
2. So sánh AC với AB + BC
3. So sánh AB với AC + CB
4. So sánh BC với BA + AC
Làm lại bài tập trên với các trờng hợp hình vẽ khác.
Hỏi: * Làm sao nhận biết các điểm thẳng hàng.
* Làm sao nhận biết một điểm thuộc một đoạn thẳng.
* Lập bảng tóm tắt nhận xét.
Hớng dẫn HS thành lập bảng sau:
Cho ba điểm A, B, C bất kì
Nếu B thuộc đoạn thẳng AC Nếu B không thuộc đoạn thẳng AC
AC = AB + BC
Nếu B thuộc đờng thẳng
AC
Hình 28
Nếu B không thuộc đ-
ờng thẳng AC
Hình 29
AC < AB + BC
Với mọi điểm A, B, C AC

AB + BC
3. GV cần nắm đợc một số kỹ thuật để soạn bài và dạy học theo con đ-
ờng trực quan, phân tích.
9
C
B
A
B
A
C
C
A
B
B
C
A
A
B
C
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
Học sinh đợc hớng dẫn để tự lực tiếp cận kiến thức mới một cách tự nhiên, xuất
phát từ những kiến thức đã biết.
Ví dụ: Để dẫn tới định nghĩa đơn thức đồng dạng, HS đợc làm bài tập: Xếp các
đơn thức sau thành từng nhóm các đơn thức có phần giống nhau.
xyzxzxxxyzxyxyzzxxy 2,
8
5
,
2
1
,7,,
7
4
,
5
1
,
7
2
242

.
Học sinh đợc cảm nhận trực quan trớc khi phát biểu khái niệm, quy tắc. Chẳng
hạn để đi đến khái niệm hình chữ nhật cùng các tính chất của nó, có thể cho HS làm bài
tập:
Đo các cạnh, các góc của bảng đen lớp học rồi phát biểu nhận xét. Học sinh nêu
đợc các nhận xét.
- Các cạnh đối diện thì bằng nhau.
- Các cạnh đối diện thì song song.
- Bốn góc đều là góc vuông.
Từ những nhận xét trực quan đó, HS dễ dàng đi đến định nghĩa. Hình chữ nhật là
hình bình hành có một góc vuông hoặc: Hình chữ nhật là hình thang cân có một góc
vuông.
Cũng nh quy trình học khái niệm, quy trình học định lí đợc bắt đầu với việc đoán
nhận trực quan, giúp cho việc chứng minh định lí đợc dễ dàng. Chẳng hạn bài tập: Vẽ
các tam giác khác nhau (Tam giác có ba góc nhọn, tam giác có góc vuông, tam giác có
góc tù, tam giác cân, tam giác đều). Đo các góc, các cạnh và nêu nhận xét về mối quan
hệ giữa cạnh và góc. Học sinh nêu đợc các nhận xét:
- Trong

ABC, nếu AC > AB thì

B
>

C
và ngợc lại.
- Tam giác có hai góc bằng nhau là tam giác cân.
- Tam giác có ba góc bằng nhau là tam giác đều.
- Trong tam giác vuông thì cạnh huyền lớn nhất.
Để biểu thị trực quan có thể sử dụng ô trống, chỗ trống, sơ đồ, hình vẽ. Chẳng hạn
điền vào ô trống.
yxyx
yx
yx
22
2
2
8
41
0
8
41
0
8
41
=
=
=+
Chia định lí thành những bài tập nhỏ. Khi HS chứng minh xong các bài tập nhỏ đó
thì hoàn thành chứng minh định lí, từ đó phát biểu định lí .
10
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
Ví dụ: cho

ABC có AC > AB. Chứng minh góc đối diện với cạnh AC lớn hơn
góc đối diện với cạnh AB (Gợi ý: Trên tia AC lấy điểm B' sao cho AB' = AB. Hãy so
sánh ABC với ABB', ABB' với AB'B, AB'B với C).
Tìm nhiều cách chứng minh khác nhau đối với một định lí giúp HS hiểu rõ bản
chất của suy luận toán học, mặt khác biết chủ động, sáng tạo sử dụng sách giáo khoa.
Ví dụ: cho

ABC có

B
=

C
. Chứng minh rằng AC = AB. Với bài tập này, yêu
cầu HS tìm ít nhất 4 cánh chứng minh.
Lu ý HS lập luận có căn cứ, đặc biệt khi muốn rèn luyện HS một phơng pháp
chứng minh nào đó (phân tích đi lên, chứng minh bằng phản chứng, chứng minh bằng
cách loại trừ )
Chẳng hạn bài tập: Cho

ABC có

B
>

C
. Xét quan hệ giữa AC và AB.
- Hỏi AC = AB đợc không? Vì sao?
- Hỏi AC < AB đợc không? Vì sao?
- Kết luận mối quan hệ giữa AC và AB.
Ra bài tập tổng hợp nhằm ôn tập đồng thời một hệ thống kiến thức. Ví dụ bài tập:
cho các đơn thức sau.
A =
2323
)
3
2
()(
2
1
yaxyx

(a là hằng số)
B =
.
3
4
2
1
2
xyyx

C =
.
3
1
32
yx
- Tìm bậc của từng đơn thức đối với mỗi biến và đối với tập hợp các biến.
- Tìm các đơn thức đồng dạng với nhau.
- Hãy cho ví dụ một đơn thức đồng dạng với A và một đơn thức không đồng dạng
với A.
- Tính A.C, B - C, C - B
- Cho x

0, y

0 chứng tỏ rằng C - B luôn cùng dấu với y (câu này dành cho
HS giỏi)
Ra bài tập tơng tự với bài tập trong sách giáo khoa đặc biệt hoá hoặc khái quát
hoá, phục vụ các loại đối tợng HS khác nhau.
Ví dụ : - Cho

ABC có

A
= 120
0
với AD là phân giác trong. Gọi E, F là chân đ-
ờng vuông góc hạ từ điểm D đến các cạnh AB và AC.
- Chứng minh rằng

DEF là tam giác đều.
11
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
- Qua điểm C kẻ đờng thẳng song song với AD cắt đờng thẳng AB tại M. Chứng
minh rằng

ACM là tam giác đều.
Ra bài tập nh bài tập trên nhng thay

A
= 90
0
, chứng minh DEF, ACM là tam
giác vuông cân. Bài tập này có thể dùng cho HS yếu.
Có thể ra bài tập khái quát từ bài tập trên, cho

A
là góc bất kì, chứng minh DEF,
ACM là tam giác cân. Bài tập này có thể dùng cho HS.
Có thể ra bài tập mở, dùng cho HS giỏi nh sau:
Cho

ABC với AD là phân giác trong. Gọi E, F là chân đờng vuông góc hạ từ D
đến các cạnh AB và AC.
-

DEF là tam giác gì?
- Qua điểm C kẻ đờng thẳng song song với AD cắt đờng thẳng AB tại M. Hỏi

ACM là tam giác gì?
- Nếu cho thêm điều kiện

A
= 120
0
thì

DEF;

ACM là tam giác gì?
- Nếu cho thêm điều kiện

A
= 90
0
thì

DEF;

ACM là tam giác gì?
Sử dụng phiếu học tập. Nếu chuẩn bị tốt sẽ tiết kiệm thì giờ, gây hứng thú, đa đợc
nhiều yếu tố mới vào bài giảng và nhiều tình huống để HS giải quyết (ở các mức độ
khác nhau), rèn luyện kĩ năng và giúp cho việc kiểm tra nhanh chóng theo kiểu test.
Phiếu học tập có nhiều kiểm. Sau đây là ví dụ về kiểu trắc nghiệm.
Nội dung Đúng Sai
Nếu I thẳng hàng với hai điểm C, D thì I là trung điểm của đoạn thẳng
CD
x
Nếu I nằm giữa C, D thì I là trung điểm của đoạn thẳng CD
Nếu IC = ID thì I là trung điểm của đoạn thẳng CD
Nếu IC = ID thì I không là trung điểm của đoạn thẳng CD
Nếu I nằm giữa C, D và IC = ID thì I là trung điểm của đoạn thẳng CD.
II. Kết quả đạt đợc
Số lợng học sinh tiếp thu bài và vận dụng Ghi chú
Giỏi Khá TB Yếu
1. 8A 42 19 21 2
2. 8B 41 8 24 9
3. 7A 37 17 19 1
4. 7C 35 7 22 6
12
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
Phần III. Kết luận
Tóm lại, tích cực hóa dạy học môn Toán ở trờng THCS phải luôn gắn liền việc dạy
học kiến thức, kĩ năng với việc giáo dục, rèn luyện phát triển trí tuệ của HS và cần đặc
biệt chú ý các điểm sau:
- Phải kích thích học sinh hứng thú học toán, khơi dậy và phát huy năng lực hoạt
động nhận thức độc lập, năng lực tự học của HS.
13
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
- Dạy và học là hai mặt của một quá trình thống nhất giáo viên phải nhằm hớng
dẫn, điều khiển, thúc đẩy việc học của trò đạt kết quả tốt và đó là tiêu chuẩn chủ yếu
đánh giá phơng pháp dạy của giáo viên.
- Việc dạy học học sinh trong tập thể (nhóm, tổ, lớp) là cần thiết, có tác dụng giáo
dục học sinh biết đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ nhau trong học tập nhng việc dạy học phải
nhằm phát triển đến mức tối đa mỗi cá nhân học sinh theo đúng mục tiêu đã tạo ra. Do
đó trong phơng pháp dạy học phải quan tâm, giúp đỡ hớng dẫn việc học tập của từng
học sinh trong tập thể.
Để điều khiển tốt việc học của học sinh theo đúng mục tiêu đào tạo, giáo viên phải
thờng xuyên nắm đợc kết quả học tập của học sinh, nắm đợc những thuận lợi và những
khó khăn vất vả của HS để kịp thời tự điều chỉnh việc học. Nói cách khác, phải đảm bảo
tốt mối liên hệ ngợc (thông tin phản hồi từ trò tới thầy và từ trò trở lại trò trong quá
trình dạy học. Do đó, vấn đề kiểm tra HS và giúp đỡ HS tự kiểm tra có ý nghĩa lớn, đặc
biệt đối với môn toán, PPDH này yêu cầu HS phải thực sự hoạt động trí óc. Quy trình
chung là từ ví dụ, bài tập, hình ảnh thực tế mà đi đến kiến thức mới, từ đó HS khắc sâu
đợc kiến thức. Quá trình chiếm lĩnh tri thức toán học của HS là quá trình tái tạo khái
niệm, tính chất, định lý, quy tắc gần giống với quá trình hình thành chính những kiến
thức ấy trong lịch sử. Tuy nhiên phơng pháp dạy học này cũng rất coi trọng việc giảng
giải, trình bày kiến thức có hệ thống khái quát, làm mềm mại t duy bằng nhiều hoạt
động đa dạng độc đáo, tạo tiền đề cho phơng pháp dạy học sáng tạo.
Trong giai đoạn trớc mặt, việc áp dụng phơng pháp dạy học này tỏ ra thích hợp với
trờng THCS, nó không đòi hỏi việc thay đổi thiết bị dạy học ngoài sự gia tăng nỗ lực
của GV toán. GV cần nắm vững kiến thức trọng tâm, xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập
dẫn dắt HS giải quyết tình huống học tập và áp dụng các biện pháp kĩ thuật s phạm đã
nêu ở trên. Phơng pháp dạy học này là một hệ thống phơng pháp trong đó có vận dụng
phối hợp mặt u điểm của các phơng pháp dạy học truyền thống và những yếu tố thích
hợp của các phơng pháp hiện đại.
Trên đây là đề tài kinh nghiệm của tôi đợc đúc kết trong quá trình dạy học qua
một số năm giảng dạy và góp ý cho đồng nghiệp. Chắc chắn việc trình bày nội dung
còn có nhiều thiếu sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến bổ sung của các đồng nghiệp để
14
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
tập tài liệu này có tác dụng tốt hơn, hoàn thiện hơn và thực sự là tập tài liệu để các đồng
nghiệp vận dụng trong công tác giảng dạy của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, Ngày 4 tháng 01 năm 2009
Ngời viết
Vũ Hoàng Phơng
Mục lục

Tran
g
15
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2008 2009
Bản cam kết
3
Danh sách các sáng kiến kinh nghiệm đã viết 4
Phần I. Đặt vấn đề
5
Phần II. Nội dung
6
I. cơ sở lí luận, thực trạng và các giảI pháp 6
II. Kết quả đạt đợc 13
Phần III. Kết luận
15

Xếp loại
Xếp loại của trờng: Loại: .
Ngời đánh giá

Xếp loại của Cụm: Loại:
Ngời đánh giá
16

Wireless professioner


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Wireless professioner": http://123doc.vn/document/543667-wireless-professioner.htm


WIRELESS OVERVIEW
I. GIỚI THIỆU:
Để triển khai hệ thống mạng hiện nay có thể triển khai hệ thống mạng có dây
hoặc không dây. Nếu như yêu cầu của người dùng muốn truy cập dữ liệu mọi lúc
mọi nơi thì nên sử dụng giải pháp là Wireless.
Hệ thống mạng Wireless sẽ giúp bạn triển khai dễ dàng hơn so với số lượng dây
cáp nhiều của hệ thống mạng có dây, tiết kiệm được thời gian, tiền bạc, khả năng
mở rộng hệ thống dễ dàng và kể cả thời gian chết của hệ thống.
II. CÁC LOẠI WIRELESS NETWORK
WPAN (Wireless Personal Area Network): Công nghệ sử dụng WPAN hiện nay là sử
dụng Infra Red (IR) và Bluetooth (IEEE 802.15), cho phép sử dụng những thiết bị cá nhân
kết nối với nhau khoảng 9m
WLAN (Wireless Local Area Network): Triển khai Wireless cho hệ thống mạng nội bộ để
người dùng có thể kết nối vào hệ thống cho việc truy cập dữ liệu hoặc truy cập Internet
WMAN (Wireless Metropolitan Area Network): Là một công nghệ cho phép kết nối 2 vị
trí khác nhau như là để kết nối những tòa nhà lại với nhau. Đây là sự lựa chọn để thay thế cho
cáp quang
WWAN (Wireless Wide Area Network): Với những hệ thống rất lớn như là các chi nhánh
được đặt tại những thành phố khác nhau hoặc các quốc gia khác nhau. Với loại mô hình này
triển khai như công nghệ mạng điện thoại 2G.
Bảng so sánh:
Khoảng cách (mét) Network
0 Æ 10 Personal Area Network
0 Æ 100 Local Area Network
0 Æ 10000 Wide Area Network

III. 802.11 STANDARD
H
ệ thống mạng Wireless được phát triển dựa vào chuẩn 802.11 (trong thập niên 1990 do
nhóm Institute of Electrical and Electronics Engineers) và sau này 802.11 là chuẩn được phát
triển và đi tiên phong trong công nghệ không dây trên thế giới.
Cho đến hiện tại thì chuẩn 802.11 gồm có 4 chuẩn:
- 802.11: là chuẩn gốc của mạng không dây, hoạt động ở tần số 2.4Ghz, tốc độ 1
đến 2Mbps.
- 802.11a: hoạt động ở tần số 5Ghz, tốc độ 54Mbps
- 802.11b: hoạt động ở tần số 2.4Ghz, tốc độ 11Mbps
- 802.11g: hoạt động ở tần số 2.4Ghz, tốc độ 54Mbps đây cũng là chuẩn được triển
khai phổ biến nhất hiện nay
Lưu ý:
- Các thiết bị sử dụng chuẩn 802.11g tương thích với chuẩn 802.11b, và không
tương thích với chuẩn 802.11a.
- Trong hệ thống có chuẩn 802.11g và 802.11b thì tốc độ hoạt động theo chuẩn
802.11b là 11Mbps
IV. BLUETOOTH
Là một kiểu không dây cơ bản cho phép kết nối những thiết bị di động như Notebook,
PDA, Camera, Mobile Phone,… Bluetooth được phát triển bởi Ericsson vào năm
1994. Bluetooth hoạt động ở tần số 2.4Ghz với khoảng cách cho phép gần 10m, có
thể lên đến 100m nếu được tăng nguồn lên 100mW
V. HARDWARE
Các thiết bị cần dung để triển khai hệ thống mạng Wireless gồm:
Access Point: Là thiết bị tương đương như Switch trong hệ thống mạng có dây, cho
phép các thiết bị kết nối với nhau thông qua AP. Hiện nay AP có thể tích hợp thêm
tính năng làm Router

Wireless Network Card: Các Client muốn kết nối đến AP phải có Wireless Card.
Wireless Network Card gồm các loại: PCMCIA, PCI và USB. Các máy Laptop có thể
gắn PCMCIA hoặc USB, các máy Desktop có thể gắn PCI hoặc USB
VI. BẢO MẬT
Với những đặc điểm thuận lợi để phát triển hệ thống Wireless, ngoài ra Wireless còn có
những điểm hạn chế như: tốc độ chậm hơn mạng cố định (có dây), mọi người đều có thể kết
nối vào hệ thống trong vùng phủ sóng của Access Point cho nên việc bảo mật hệ thống mạng
không dây phải được quan tâm hàng đầu. Sau đây là các giải pháp dung để bảo mật WLAN
SSID (Service Set Identifier)
Như là một password để cho phép kết nối vào WLAN, SSID phân biệt với những hệ thống WLAN khác
và đây cũng là tên định danh cho mạng không dây. Để truy cập đến bất kỳ hệ thống mạng không dây nào
thì người dung phải biết được SSID của hệ thống đó, cho nên khi cấu hình Access Point để bảo mật thì
không bật broadcast SSID
MAC (Media Access Control) address Filtering
Access Point sẽ quản lý được các địa chỉ MAC của Client, nên có thể cho phép hay không những MAC
address nào kết nối đến AP. Đây là giải pháp để bảo mật hệ thống rất tốt tuy nhiên chỉ nên triển khai cho
hệ thống nhỏ, nếu hệ thống lớn rất khó khăn cho việc quản lý địa chỉ MAC
WEB (Wired
Equivalent Privacy)
Cung cấp khả năng chứng thực khi kết nối đến AP. WEB dựa vào thuật toán mã hóa RC4 của RSA. Tất
cả các Client kết nối đến AP bắt buộc sử dụng cùng một mã khóa được thiết lập trước cho việc mã hóa và
giải mã.
VII. TRIỂN KHAI HỆ THỐNG
1. Ad-Hoc:
Đây là giải pháp dung để kết nối các thiết bị với nhau mà không cần Access Point. Trong
phần này sẽ trình bày cách cấu hình Ad-Hoc trên 2 máy xách tay sử dụng hệ điều hành
Windows Vista
Mô Hình

Triển Khai
Bước 1:Vào Start Æ Setting Æ Control Panel, khởi động Network and Sharing Center
Chọn Manage Wireless Networks

Chọn Add

Trong hộp thoại Manually connect to a wireless network, chọn Create an ad hoc network

Hộp thoại giới thiệu về ad-hoc, nhấn next

Cấu hình ad hoc network, trong bài LAB này sẽ cấu hình như sau:
Network Name: NhatNghe
Security type: WEB
Security key: qui tắc đặt key trong bảng phía dưới



Nhấn Close để hoàn tất

Kiểm tra lại sau khi đã xấu hình

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

Hướng dẫn Cách cài Windows XP.doc


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Hướng dẫn Cách cài Windows XP.doc": http://123doc.vn/document/545430-huong-dan-cach-cai-windows-xp-doc.htm


Hướng dẫn Cách cài Windows XP
Hiện nay hầu hết các máy vi tính mới đều được cài sẵn một hệ điều hành nào đó và
thông thường là Windows XP, cho nên có nhiều người chưa từng cài đặt Windows XP
bao giờ.
Qua thòi gian tựu học và cài đặt cho các may tình có cấu hình khác nhau. Tôi xin giói
thiệu với các bạn chi tiết tại phân các bước cài đặt Windows XP:
ĐT liên hệ : 0976.555.256 Mail: S ontx.qp@nghean.edu.vn
Đôi khi bạn cần phải cài đặt Windows XP trong các trường hợp sau:
• Bạn mua (hoặc tự ráp) máy vi tính mới.
• Bạn thay ổ dĩa cứng mới.
• Máy của bạn bị Virus, các chương trình bị lỗi nhiều
• Sau một thời gian sử dụng, bạn muốn cài lại một hệ điều hành mới với các chương trình mới theo ý bạn
Đừng quá lo lắng, công việc không đòi hỏi bạn phải là một chuyên viên vi tính, chỉ mất khoảng từ 1 đến 2 giờ mà thôi.
Bạn cần phải chuẩn bị:
• Máy vi tính của bạn phải có ổ dĩa quang (CD-ROM, DVD-ROM )
• Đã được thiết lập để có thể khởi động từ dĩa CD.
• Dĩa CD Windows XP (Home, Professional ) và mã số kèm theo dĩa.
Sau đây là các bước cài đặt Windows XP:
1. Trước tiên hãy bật máy vi tính lên, đừng quan tâm nhiều đến những gì hiện ra trên màn hình. Cho dĩa Windows XP vào ổ
dĩa CD, khởi động (Restart) lại máy bằng cách nhấn nút Reset hoặc tổ hợp phím Ctrl + Alt + Del.
2. Khi hiện lên màn hình chọn khởi động từ CD, hãy nhấn một phím bất kỳ trên bàn phím để chấp nhận. Lưu ý màn hình chỉ
hiện lên vài giây, nếu không kịp bạn hãy cho máy khởi động lại và làm lại.
3. Windows bắt đầu được cài đặt, lúc này bạn không thể sử dụng chuột được cho nên hãy sử dụng bàn phím. Khi hiện ra màn
hình Welcome to Setup, hãy nhấn phím Enter.
4. Tại màn hình Windows XP Licensing Agreement, bạn có thể đọc nếu muốn, sau đó nhấn phím F8.
5. Màn hình kế tiếp sẽ cho bạn lựa chọn cài đặt Windows XP lên ổ dĩa nào (nếu có nhiều ổ dĩa), ở bước này bạn có thể
tạo các phân vùng (nhấn C) hoặc xóa các phân vùng (nhấn D và sau đó nhấn L) có sẵn của ổ dĩa cứng.
6. Nhấn Enter để chọn Unpartitioned space, mặc nhiên nó đã được chọn sẵn.
7. Màn hình này sẽ cho bạn chọn định dạng (Format) phân vùng, hãy chọn kiểu mà bạn muốn hoặc chọn Format the
partition using the NTFS file system rồi nhấn Enter.
8. Phân vùng được định dạng và các tập tin cài đặt sẽ được chép lên, quá trình này sẽ mất một khoảng thời gian cho nên bạn
có thể đi đâu đó khoảng 20 đến 30 phút rồi quay lại nếu muốn.
9. Windows XP sẽ tự khởi động lại và tiếp tục quá trình cài đặt, từ bây giờ trở đi bạn có thể sử dụng chuột. Khi hiện lên bảng
Regional and Language Options, nhấn Next để tiếp tục. (Bạn có thể chỉnh các thông số này sau khi cài xong Windows).
10. Tại bảng Personalize Your Software, điền tên và cơ quan của bạn hoặc bất cứ gì bạn thích. Một số phần mềm sẽ lấy
thông tin này để cài đặt tự động khi cần. Nhấn Next để tiếp tục.
11. Tại bảng Your Product Key, điền mã số kèm theo dĩa CD Windows XP vào các ô trống. Mỗi khi cài Windows XP bạn đều
cần đến các mã số này, nhấn Next để tiếp tục.
12. Tại bảng Computer Name and Administrator Password, trong ô Computer name hãy điền tên của máy vi tính, tên
này dùng để nhận dạng máy của bạn khi dùng trong hệ thống mạng. Hãy chọn một cái tên tùy ý nhưng đừng trùng với tên
của bạn đặt tại bước 10 và không có khoảng trống. Điền mật khẩu để ngăn không cho người khác sử dụng máy của bạn vào
ô Administrator password, và lập lại một lần nữa tại ô Confirm password. Tuy nhiên nếu không cần thiết bạn nên để
trống 2 ô này, sau này có thể làm khi cần. Nhấn Next để tiếp tục.
13. Tại bảng Date and Time Settings, bạn sẽ chỉnh ngày giờ hiện tại. Ở phần Time Zone, hãy chọn nơi ở (vùng) của bạn,
nếu bạn ở việt Nam thì hãy chọn như trong hình. Nhấn Next để tiếp tục.
14. Khi hiện ra bảng Networking Settings, nhấn Next để tiếp tục.

15. Tại bảng Workgroup or Computer Domain, nhấn Next để tiếp tục.
16. Windows XP sẽ cài đặt cấu hình trong khoảng từ 20 đến 30 phút và sẽ tự khởi động lại khi hoàn tất. Khi hiện ra bảng
Display Settings, nhấn OK.
17. Khi hiện ra bảng Monitor Settings, nhấn OK.
18. Màn hình Welcome to Microsoft Windows xuất hiện, nhấn Next.
19. Tại bảng Help protect your PC nếu muốn Windows tự động cập nhật thì chọn ô Help protect my PC by turning on
Automatic Updates now (bạn cần phải có kết nối Internet). Nhấn Next để tiếp tục.
20. Windows Xp sẽ kiểm tra kết nối Internet, hãy chọn kiểu kết nối trong bảng Will this computer connect to the
Internet directly, or through a network? Nếu không biết bạn cứ để nguyên như vậy và nhấn Next.
Nếu bạn sử dụng kết nối quay số hoặc nếu Windows không kết nối Internet được, bạn có thể kết nối sau này. Khi hiện ra
bảng How will this computer connect to the Internet? hãy nhấn Skip để bỏ qua phần này.
21. Khi hiện ra bảng Ready to activate Windows? (Xác nhận hiệu lực của Windows) chọn Yes nếu bạn có kết nối với
Internet và nhấn Next. Nếu không hãy chọn No, Windows XP sẽ nhắc bạn sau, nhấn Next bạn sẽ bỏ qua các bước kế
tiếp và chuyển đến bước 24.
22. Tại bảng Ready to register with Microsoft? (đăng ký thông tin về bạn với Microsoft) chọn Yes và nhấn Next (có thể
nhấn No để bỏ qua nếu bạn chưa muốn đăng ký).
23. Nhập các thông tin cần thiết tại bảng Collecting Registration Information, nhấn Next (có thể nhấn Skip để bỏ qua
nếu bạn chưa muốn đăng ký).
24. Tại bảng Who will use this computer? bạn sẽ tạo tài khoản cho người sử dụng máy vi tính này, có thể tạo được nhiều
tài khoản nếu muốn. Hãy điền tên của bạn vào ô Your name (có thể lấy tên giống như ở bước 10), nhấn Next.

Giải pháp đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Giải pháp đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam": http://123doc.vn/document/546363-giai-phap-day-manh-co-phan-hoa-dnnn-o-viet-nam.htm


Đề án môn học
Nh vậy sự xuất hiện của các công ty cổ phần theo lí luận của C.Mac là kết quả
của sự phát triển của lực lợng sản xuất và là bớc tiến từ sở hữu t nhân lên sở hữu
tập thể của các cổ đông.
Quá trình cổ phần hóa một bộ phận DNNN ở nớc ta có nhiều nét đặc thù,
đó là cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nớc, thuộc sở
hữu xã hội, toàn dân. Mục tiêu cơ bản của việc chuyển một bộ phận DNNN
thành công ty cổ phần là nhằm hoàn thiện quan hệ sản xuất, phù hợp với tính
chất trình độ của lực lợng sản xuất, nâng cao hiệu quả của DNNN. Cụ thể là tìm
một hình thức quản lí vừa phát huy quyền làm chủ của ngời lao động vừa đảm
bảo quản lí một cách có hiệu quả tài sản của doanh nghiệp.
Chúng ta đã đa ra nhiều hình thức công ty cổ phần nhng có thể gói gọn trong hai
nhóm chính:
Nhóm các công ty cổ phần trong đó Nhà nớc có tham gia cổ phần nh: Giữ
nguyên giá trị của doanh nghiệp kêu gọi thêm vốn bằng cách phát hành thêm cổ
phiếu, bán một phần tài sản doanh nghiệp, cổ phần hóa một bộ phận doanh
nghiệp. Tất cả các hình thức cổ phần hóa theo ba dạng trên thì Nhà nớc hoặc là
nắm giữ cổ phiếu khống chế(51%) hoặc là không nắm giữ cổ phiếu khống chế.
Loại hình cổ phần hóa theo thể thức Nhà nớc bán toàn bộ doanh nghiệp cho ngời
lao động. Nhằm rút vốn, đầu t vào những ngành lĩnh vực quan trọng, then chốt,
địa bàn quan trọng. Không nhất thiết phải giữ tỷ trọng lớn trong tất cả các
ngành, lĩnh vực, sản phẩm của nền kinh tế.
Dù tồn tại dới bất kì hình thức nào thì công ty cổ phần là một loại hình doanh
nghiệp đa sở hữu. khi ngời lao động tham gia mua cổ phần của doanh nghiệp thì
họ cũng đã gắn lợi ích của bản thân vào lợi ích của doanh nghiệp, tạo ra sự giám
sát tập thể đối với đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra cơ chế
phân phối hài hòa giữa doanh nghiệp, Nhà nớc và ngời lao động. Nhờ đó mà
hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp có điều kiện đợc nâng lên.
Nh vậy có thể nói quá trình cổ phần hóa một bộ phận DNNN không phải là quá
trình t nhân hóa. Bởi vì Nhà nớc chỉ nắm giữ những ngành, những lĩnh vực cần
thiết, vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nớc không những không đợc cũng
cố mà còn có thể bị yếu đi nếu cứ tiếp tục duy trì những doanh nghiệp hiệu quả
thấp, năng lực cạnh tranh kém. Việc bán toàn bộ tài sản chỉ đợc áp dụng đối với
các doanh nghiệp mà Nhà nớc không cần nắm giữ, những lĩnh vực mà khu vực
dân doanh hoàn toàn có thể làn tốt hơn DNNN. Nhà nớc sẻ lựa chọn hình thức
bán phù hợp và nếu bán theo cách để cho ngời lao động có cổ phần u đãi hay cổ
phần không chia thì rõ ràng không thể nói đó là t nhân hóa.
Cổ phần hóa cũng xuất phát từ yêu cầu đổi mới DNNN. DNNN nắm giữ trong
tay những nguồn lực của nền kinh tế nh tài nguyên thiên nhiên, vốn và nhân lực.
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
Việc sử dụng lãng phí, không hiệu quả cao các nguồn lực khan hiếm là một
trong những nhân tố làm chậm tiến trình phát triển kinh tế của nớc ta. Tốc độ
tăng trởng cao của nền kinh tế nớc ta trong những năm qua không có nghĩa là
nền kinh tế chúng ta đang vận hành trơn tru mà sự tăng trởng cao đó nh các tổ
chức kinh tế thế giới đã cảnh báo là do chúng ta có xuất phát điểm thấp. Hiện
nay mối quan hệ gia nhà nớc và các DNNN là không rõ ràng, để duy trì các
doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả Nhà nớc đã sử dụng hàng loạt các biện pháp
trực tiếp và gián tiếp nh : xóa nợ, khoanh nợ, tăng vốn, u đãi tín dụng Và nh
vậy DNNN trở thành đối tợng trợ cấp của xã hội, và xã hội trở thành chổ bấu
víu cho các DNNN
làm ăn thua lỗ. Theo báo cáo tổng kiểm kê tài sản và xác định lại giá trị tài sản
của DNNN thì thực trạng nh sau: tổng giá trị tài sản của DNNN theo sổ sách
kế toán là 517.654 tỷ đồng, theo giá kiểm kê xác định lại là 527.256 tỷ đồng;
số nợ phải thu là 187.091 tỷ đồng chiếm 35% giá trị tài sản của doanh nghiệp,
gấp 1,43 lần vốn kinh doanh; hàng hóa tồn kho là 45.688 tỷ đồng, trong đó
hàng ứ đọng, mất phẩm chất không dùng đến là 1.600 tỷ đồng; doanh nghiệp
có 1 đồng vốn thì phải vay hoặc chiếm dụng 1,2 đồng cho kinh doanh, hệ số
vốn vay và vốn chiếm dụng so với vốn sở hữu là 1,8 lần; tổng số nợ phải trả là
353.410 tỷ đồng, bằng 2,3 lần vốn nhà nớc cấp, gấp 2 lần nợ phải thu trong đó
nợ quá hạn phải trả là 10.171 tỷ[ theo báo cáo tổng kiểm kê tài sản và xác
định lại tài sản DNNN tại thời điểm 0 h ngày 01-01-2000.]
Yêu cầu đổi mới DNNN còn phát sinh sự từ cạnh tranh với khu vực kinh tế t
nhân đang có những bớc chuyển mình mạnh mẻ. Mặt khác trong quá trình hội
nhập DNNN không chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp t nhân trong nớc mà
còn cả với các doanh nghiệp khác của nớc ngoài. Cạnh tranh trên thị trờng
không chấp nhận sự bảo hộ của Nhà nớc đối với các doanh nghiệp của mình mà
cạnh tranh bình đẳng đòi hỏi nhà nớc không chỉ xóa độc quyền mà cả bao cấp.
Nh vậy cổ phần hóa là một giải pháp tốt cho nền kinh tế nớc ta nói chung cũng
nh các DNNN nói riêng.
2. Thực tiễn cổ phần hóa DNNN.
DNNN có mặt ở hầu hết các nớc trên thế giới, kể cả những nớc t bản chủ nghĩa.
Sự tồn tại của DNNN ở các nớc t bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan . Khi
mà những cuộc khủng hoảng liên tục của chủ nghĩa t bản vào những năm đầu
của thế kỉ XIX đã chứng minh sự sụp đổ của học thuyết bàn tay vô hình . Sự can
thiệp của Nhà nớc vào hoạt động của nền kinh tế là rất cần thiết để duy trì sự
phát triển cân đối của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên sự phát triển của DNNN
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
ở nhiều nớc đều vấp phải tình trạng chung là hiệu quả thấp, tham nhũng, lãng
phí Vì thế cải cách DNNN là một điều tất yếu; Có nhiều cách thức để cải cách
DNNN nhng t nhân hóa là biện pháp đợc sử dụng rộng rãi nhất và đem lại nhiều
kết quả khả quan nhất. T nhân hóa đợc tiến hành mạnh mẻ ở các nớc có nền
kinh tế phát triển mạnh nh Hàn Quốc, Xingapo, Nam phi cũng nh các nớc
đang phát triển và các nớc phát triển và nó đang trở thành một xu thế mang tính
chất toàn cầu. Là một nớc xã hôi chủ nghĩa, có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
cũng gần giống với Việt Nam. Trung Quốc cũng tiến hành cải cách DNNN và
thực tiễn cải cách DNNN ở Trung Quốc đã để lại cho chúng ta nhiều kinh
nghiệm quý báu. Cải cách DNNN ở Trung quốc đợc thực hiện khá rộng rãi và
thành công, thực sự là một kinh nghiệm cho việc cải cách DNNN mà không cần
phải t nhân hóa hàng loạt. Cải cách DNNN bắt đầu từ năm 1984 và đã trải qua
bốn giai đoạn Cổ phân hóa DNNN trong giai đoạn này thực sự trở thành chiến
lợc của Trung Quốc trong việc hiện đại hóa và phát triển kinh tế và đã thể hiện
rõ rệt hiệu quả của khu vực kinh tế công cũng nh nâng cao hiệu quả hoạt động
của DNNN.
Phải nói rằng cụm từ cổ phần đã rất quen thuộc từ hơn nhiều năm nay,
kể từ khi Đảng ta lập hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng, lập cửa hàng xí
nghiệp công t hợp doanh và đã đợc phát triển rộng khắp. Trớc sức ép đẩy nhanh
việc cổ phần hóa một số địa phơng và DNNN đã tìm mọi cách để đạt đợc chỉ
tiêu kế hoạch. Nếu chọn đơn vị kém hấp dẫn để cổ phần hóa thì cổ phần hóa th-
ờng rất bế tắc vì xuất phát từ tâm lí chủ quan của mọi ngời là ai cũng muốn bảo
toàn lợi ích của mình, không ai muốn rủi ro vì thế không ai muốn bỏ vốn ra để
mua cổ phần. Bởi vậy để có thể suôn sẻ việc chọn đơn vị nào đang làm ăn đợc,
đang có triển vọng đợc coi là một giải pháp hữu hiệu dễ đợc cán bộ công nhân
viên và ngời ngoài doanh nghiệp chấp nhận việc mua cổ phần. Nếu chỉ là DNNN
thuần túy thì cơ chế tài chính rất ngặt nghèo, dù làm ăn có hiệu quả, lãi lớn thì
tiền lơng vẫn bị khống chế, không đợc tăng lên tơng ứng. Sự xuất hiện của công
ty cổ phần đã phần nào khắc phục đợc những hạn chế đó. Nhng qua thực tế thì
rõ ràng không phải cổ phần hóa là một phép màu làm cho các công ty cổ phần
bỗng nhiên phát đạt, bởi vì nếu không có sự hỗ trợ của các DNNN thì các
công tyđó mất rất nhiều hợp đồng kinh tế, mất việc làm và có thể dẫn đến sa sút
ngay. Điều này càng chứng tỏ cổ phần hóa làm sáng tỏ nhu cầu và nội dung đổi
mới DNNN, đó là phải đồng bộ cả về sắp xếp cải tiến hoạt động của doanh
nghiệp và cơ chế chính sách đối với nó để đảm bảo động lực phát triển, nhân tố
kích thích sự hăng hái sáng tạo, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Các công ty thành viên hoặc bộ phận trong DNNN sau khi cổ phần hóa về
nguyên tắc coi nh đã ra khỏi doanh nghiệp mẹ. Nhng xét về thực chất thì công ty
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
cổ phần mới vẫn gắn chặt với công ty mẹ và thông thờng không muốn rời bỏ
quan hệ mật thiết trong hệ thống của tổng công ty Nhà nớc. Bởi vậy cổ phần hóa
đã gợi mở mô hình tổng công ty đa sở hữu với thành phần kinh tế Nhà nớc giữ
vai trò chủ đạo, vai trò chủ đạo ở đây bắt nguồn từ khả năng chi phối bằng sức
mạnh kinh tế, từ lợi ích mà thành phần kinh tế chủ đạo dẫn dắt và mang lại cho
các thành phần kinh tế khác. Trong thực tế đã bắt đầu xuất hiện công ty đa sỡ
hữu kiểu này ở một vài DNNN có quy mô lớn nhng mô hình này cha đợc thể chế
hóa và nhân rộng. Khi mô hình này đợc phát triển thì sẻ ẩn chứa khả năng hình
thành các công ty đầu t hoặc kinh doanh tài sản của Nhà nớc, qua đó quyền sở
hữu tài sản của doanh nghiệp sẻ chuyển thành quyền sở hữu giá trị dới hình thức
phổ biến là cổ phiếu.
Trong nền kinh tế thị trờng các công ty cổ phần các, công ty TNHH, t nhân
đầu t mua chứng khoán của nhau, đan xen xâm nhập nhau tạo nên những hình
thái doanh nghiệp đa sở hữu, tách quyền sở hữu với quyền kinh doanh nhng lại
gắn kết các thành viên trong xã hội ở hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Có thể nói đây là xu hớng tích cực, ngày càng phổ biến làm cho các
thành viên trong nền kinh tế có thể hợp sức nhau lại tạo nên một động lực mới
cho tiến trình phát triển kinh tế của đất nớc.
III). Tiến trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam.
Cổ phần hóa là một phần quan trọng trong cải cách hệ thống doanh nghiệp Nhà
nớc của nhiều quốc gia trên thế giới kể từ đàu thập niên 80 của thế kỉ XX ở Việt
Nam, cổ phần hóa DNNN là một quá trình tìm tòi thử nghiệm và từng bớc tháo
gỡ khó khăn trong quá trình triển khai. Trong quá trình đó Đảng ta không ngừng
đổi mới t duy, từng bớc chỉ đạo đúng đắn cổ phần hóa góp phần sắp xếp, cũng
cố, phát triển và nâng cao hiệu quả của hệ thống DNNN trong nền kinh tế thị tr-
ờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian từ 1960 đến 1990 tức là trớc
thời điểm thực hiện cổ phần hóa, Đảng và Nhà nớc ta đã triển khai nhiều biện
pháp nhằm cải tiến quản lý xí nghiệp quốc doanh. Trong thời kì đổi mới ý tởng
về cổ phần hóa DNNN đã đợc hình thành khá sớm. Từ hội nghị Trung ơng
3( khóa VI) về đổi mới cơ chế quản lí đã nêu: Nếu không đủ điều kiện để cũng
cố và không cần thiết duy trì hình thức quốc doanh thì chuyển sang hình thức sở
hữu khác ( kể cả cho tập thể, t nhân thuê), hoặc giải thể, trớc hết là những xí
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng không thuộc loại thiết yếu, xí nghiệp dịch vụ
trang bị kĩ thuật thấp, bị thua lỗ thờng xuyên. Những biện pháp cải cách tơng
đối có giá trị đột phá đợc qui định trong quyết định số 21/HĐBT ngày 14-11-
1987 của hội đồng bộ trởng. Nếu tính về số lợng các văn bản đợc ban hành thì
vấn đề đổi mới DNNN chiếm vị trí hàng đầu trong hệ thống chính sách và pháp
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
luật ở nớc ta. Quyết định 21/HĐBT đã đề cập tới việc tiến hành thí điểm cổ phần
hóa DNNN và giao cho bộ tài chính chủ trì. Nhng do điều kiện thị trờng cha
phát triển, tồn tại quá lâu trong cơ chế củ nên từ Trung ơng đến cơ sở cha hiểu
hết vấn đề phức tạp này do đó cha thống nhất về quan điểm. ở giai đoạn này thì
cổ phần hóa là một vấn đề mới đối với thực tiễn quản lí DNNN ở nớc ta. Đầu
năm 1990 trên cơ sở đánh giá kết quả sau 5 năm đổi mới, Hội đồng bộ trởng đã
ban hành quyết định số 143/HĐBT ngày 10/5/1990 về chủ trơng nghiên cứu làm
thử xí nghiệp quốc doanh sang công ty cổ phần. Tuy vậy đến năm 1992 cả nớc
cha cổ phần hóa đợc doanh nghiệp nào. Một trong những nguyên nhân của tình
trạng này là quyết định 143/HĐBT của Hội đồng bộ trởng đặt ra quá nhiều mục
tiêu không rõ ràng dễ gây hiểu nhầm đối với các doanh nghiệp và ngời lao động.
Đến đại hội XII Đảng ta lại chủ trơng thực hiện quan điểm: khẩn trơng sắp xếp
lại và đổi mới quản lí kinh tế quốc dân. Cho thuê, chuyển hình thức sở hữu hoặc
giải thể các cơ sở thua lỗ kéo dài và không có khả năng vơn lên. Đại hội đã chỉ
rỏ: đối với những cơ sở không cần giữ hình thức quốc doanh, cần chuyển hình
thức kinh doanh, hình thức sở hữu hoặc giải thể, đồng thời giải quyết việc làm
và đời sống cho ngời lao động. Khuynh hớng coi nhẹ kinh tế quốc doanh, muốn
t nhân hóa tràn lan, cho rằng chuyển sang cơ chế thị trờng phải t hữu hóa tất cả
các t liệu sản xuất là sai lầm. Tuy nhiên nếu duy trì và phát triển kinh tế quốc
doanh một cách tràn lan, kéo dài cơ chế bao cấp cũng không đúng. Cổ phần
hóa DNNN có thể chia thành 4 giai đoạn chính:
1. Giai đoạn thứ nhất(1992-giữa năm 1998): Nhằm thể chế hóa Nghị
quyết Đại hội XII của Đảng, Hội đồng bộ trởng đã ra quyết định số 202/QĐ-
HĐBT chỉ đạo tiếp tục triển khai tiếp tục tiến hành cổ phần hóa DNNN bằng
việc chuyển thí điểm một số DNNN thành công ty cổ phần. Đây đợc coi là một
mốc trong tiến trình cổ phần hóa DNNN ở nớc ta, đánh dấu tiến trình cổ phần
hóa đang đợc xúc tiến và đang trong giai đoạn thí điểm. Để thực hiện Nghị
quyết này theo chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 của Thủ tớng Chính phủ đã
chọn 7 doanh nghiệp, đồng thời cũng giao cho các bộ, các tỉnh các thành phố
trực thuộc Trung ơng chọn 1 đến hai doanh nghiệp để tiến hành thí điểm cổ
phần hóa. Triển khai thực hiện theo tinh thần chỉ thị của Thủ tớng Chính phủ các
bộ ,nghành, địa phơng đã thông báo đến từng doanh nghiệp để các doanh nghiệp
tự nguyện tiến hành thí điểm chuyển doanh nghiệp mình thành công ty cổ phần.
Cuối năm 1993 đã có 30 doanh nghiệp đăng kí thực hiện thí điểm cổ phần hóa
nhng vì nhiều lí do mà cả 7 doanh nghiệp đã đơc Chính phủ chọn và nhiều
doanh nghiệp khác xin rút lui hoặc không tiếp tục làm thử. Điều này đã đặt
chúng ta trớc những khó khăn lớn và để giải quyết những khó khăn, vớng mắc
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
trong quá trình thí điểm cổ phần hóa Đảng ta đã chủ trơng: để thu hút thêm
các nguồn vốn, tạo động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy DNNN làm ăn có
hiệu quả cần thực hiện các hình thức cổ phần hóa có mức độ phù hợp với tính
chất và lĩnh vực sản xuất kinh doanh; Trong đó Nhà nớc chiếm tỷ lệ cổ phần chi
phối . Hội Nghị giữa nhiệm kì khóa XII Đảng ta đã đặt ra yêu cầu: áp dụng
từng bớc vững chắc việc bán một tỷ lệ cổ phần cho công nhân viên chức làn việc
tại doanh nghiệp; Thí điểm việc bán một phần cổ phần, cổ phiếu của một số
DNNN cho một số tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp; Trên cơ sở cổ phần
hóa tổ chức Hội đồng quản trị gồm đại diện cho sở hữu nhà nớc, sở hữu công
nhân và sở hữu và các chủ sở hữu khác Mặc dù có sự chỉ đạo sít sao của Đảng
với quan diểm rõ ràng nhng kết quả thu đợc không cao, tới tháng 4/1996 chỉ có
5 doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần trong đó 2 trong tổng số 61 tỉnh
thành và 3 trong số 7 bộ có doanh nghiệp cổ phần hóa. Cả 5 doanh nghiệp này
đều là những doanh nghiệp nhỏ, sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong những lĩnh
vực không quan trọng. Có thể nói giai đoạn thí điểm cổ phần hóa DNNN đã
khjông đạt đợc những kết quả nh mong đợi, tốc độ cổ phần hóa quá chậm và còn
quá nhiều những vớng mắc khó khăn cần đợc tháo gỡ và rút kinh nghiệm.
2. Giai đoạn 2( giữa năm 1996-giữa năm1998): Đây là giai đoạn vừa làm
vừa rút kinh nghiệm để tạo hành lang pháp lí cho các doanh nghiệp khi cổ phần
hóa, hay nói cách khác đây là giai đoạn mở rộng cổ phần hóa. Với kinh nghiệm
sau 4 năm tiến hành thí điểm cổ phần hóa và trớc nhu cầu về vốn của các
DNNN, ngày 7/5/1996 Chính phủ đã chủ trơng mở rộng cổ phần hóa bằng Nghị
định 28/CP với những qui định rõ ràng, đầy đủ và cụ thể hơn về việc chuyển một
số DNNN thành công ty cổ phần. Sau hơn 2 năm thực hiện tính đến tháng
6/1998 cả nớc đã tiến hành cổ phần hóa đợc 25 DNNN. Việc triển khai thực
hiện Nghị định 25/CP vẫn còn khá nhiều vớng mắc bất cập nh phơng pháp xác
định giá trị doanh nghiệp, chế độ u đãi cho doanh nghiệp và ngời lao động sau
cổ phần hóa , đây chính là những rào cản bớc đàu làm chậm tiến trình cổ phần
hóa, tuy nhiên nếu nhìn nhận một cách khách quan thì cổ phần hóa trong giai
đoạn này cũng đã đạt đợc những kết quả khả quan.
3. Giai đoạn 3(1998-2001): Trên cơ sở những kết quả bớc đầu của giai
đoạn mở rộng cổ phần hóa, Đảng ta đã chủ trơng chủ trơng đẩy mạnh tốc độ cổ
phần hóa DNNN. Hội nghị Trung ơng 4 khóa XIII đã yêu cầu: Đối với các
doanh nghiệp mà Nhà nớc không cần nắm giữ 100% vốn, cần lập kế hoạch cổ
phần hóa tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, làm ăn có hiệu quả phát
huy tốt nguồn lực hiện có. Tiến hành thí điểm bán cổ phần cho ngời nớc ngoài,
khuyến khích nông dân tham gia sản xuất nguyên liệu cung ứng cho các nhà
máy, xí nghiệp , tham gia mua cổ phần ở các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
nghiệp chế biến nông sản Từ thực tiễn kinh nghiệm ngày 4/4/1997 Bộ Chính
trị ra thông báo số 63TB/TW ý kiến của Bộ Chính trị về tiếp tục triển khai tích
cực và vững chắc cổ phần hóa DNNN. Nhằm thực hiện quan điểm của Đảng
ngày 29/6/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP thay thế
cho các văn bản về cổ phần hóa trớc đó, cùng với chỉ thị 20/CT-TTg ngày
21/4/1998 của Thủ tớng Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới DNNN.
Nghị định này là một bớc tiến lớn trong việc đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa, hạn
chế bớt đợc những bất cập trong các văn bản chỉ đạo thực hiện trớc đó. Nghị
định này đã bớc đầu cho những kết quả khả quan, đến 6 tháng cuối năm 1998 đã
có 90 DNNN đợc cổ phần hóa gấp hơn 3 lần kết quả của những năm trớc đó, đặc
biệt năm 1999 cả nớc cổ phần hóa đợc hơn 240 doanh nghiệp. Đạt đợc những
thành công này một phần là nhờ ở sự chỉ đạo, giám sát, đôn đốc của các cơ
quan, ban , nghành từ Trung ơng đến cơ sở. Trong vòng hai năm các cơ quan
Nhà nớc đã ban hành 15 văn bản hớng dẫn tháo gỡ những vớng mắc khó khăn
trong cổ phần hóa. Nhng đến năm 2000 cả nớc chỉ cổ phần hóa đợc 155 doanh
nghiệp và bộ phận doanh nghiệp đạt 26% kế hoạch. Sự chững lại của cổ phần
hóa có nhiều nguyên nhân nhng một trong số các nguyên nhân chính vẫn là
những bất cập về chính sách và cơ chế pháp lí. Trớc tình hình đó Hội nghị Trung
ơng 3 khóa IX về sắp xếp đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nớc
đã xác định: phải kiên quyết điều chỉnh cơ cấu để doanh nghiệp có cơ cấu hợp lí
và theo đó thì cổ phần hóa DNNN đợc xác định là khâu tạo ra những chuyển
biến quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả DNNN.
4. Giai đoạn 4( giai đoạn mới): Theo tinh thần Nghị quyết Trung ơng
khóa IX Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CP nhằm thay thế
Nghị đinh 44/1998/NĐ-CP, đồng thời ra quyết định số 50/2002/QĐ-CP về ban
hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN và một số văn bản chỉ đạo thực hiện
khác nhằm từng bớc tháo gỡ những vớng mắc của các văn bản trớc đó, tạo điều
kiện thuận lợi cho tiến trình cổ phần hóa. Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các bộ,
các tỉnh, các tổng công ty rà soát, sắp xếp lại các doanh nghiệp, xây dựng đề án
đổi mới nâng cao hiệu quả của DNNN trong một số ngành, lĩnh vực then chốt
của nền kinh tế quốc dân. Bằng các hình thức sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá
sản, giao bán, khoán, cho thuê và cổ phần hóa. Từ 2001-2003 cổ phần hóa đợc
979 doanh nghiệp, riêng 2003 là 611 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp đ-
ợc cổ phần hóa. Các doanh nghiệp cổ phần hóa chỉ chiếm 6% tổng số vốn của
DNNN, với tốc độ, số lợng và mức độ cổ phần hóa nh vậy thì cổ phần hóa cha
thực sự tạo đợc những chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN
nh Nghị quyết Trung ơng 3 khóa IX đã đề ra. Bớc sang năm 2004 Hội nghị
Trung ơng 9 khóa IX đã đề ra những điểm rất mới và rất quan trọng trong chủ tr-
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
ơng đổi mới sắp xếp lại DNNN: kiên quyết đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và
mở rộng diện các DNNN cần cổ phần hóa kể cả những doanh nghiệp lớn và một
số tổng công ty làm ăn có hiệu quả, gắn với việc phát hành cổ phiếu và tham gia
niêm yết trên thị trờng chứng khoán giá trị DNNN đợc cổ phần hóa, trong đó có
giá trị quyền sử dụng đất, về nguyên tắc phải do thị trờng quyết định. Việc mua
bán cổ phiếu phải công khai trên thị trờng, khắc phục tình trạng cổ phần hóa
khép kín trong nội bộ doanh nghiệp.
Cho đến nay tuy còn nhiều khó khăn nhng kết quả cổ phần hóa đã phần nào
phản ánh đợc những thành công nhất định.
Nguồn: từ ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp
Số doanh nghiệp đợc cổ phần hóa trong 2 năm 2002 và 2003 tơng đơng với giai
đoạn 1998-2001. tuy nhiên kêt quả còn nhiều hạn chế, số doanh nghiệp đợc cổ
phần hóa không đạt mục tiêu đề ra, riêng 6 tháng đầu năm 2004 chỉ đạt đợc 16%
kế hoạch ( chỉ tiêu đề ra trong năm nay là cổ phần hóa đợc 1770 đơn vị).
IV). Đánh giá chung về quá trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam.
Cổ phần hóa DNNN là một chủ trơng lớn của Đảng. Mấy năm trớc diễn biến
khá chậm chạp. Đến hội Nghị lần thứ 9 Hội nghị Trung ơng khóa IX Đảng ta đã
chủ trơng đẩy nhanh tiến độ, và đẩy mạnh hơn nữa công việc đó. Thực tiễn cổ
phần hóa đang bắt đầu diễn ra sôi động, quá trình diễn ra không đơn giản vừa có
những thuận lợi vừa có những khó khăn phức tạp, tuy nhiên sau hơn 10 năm
thực hiện chủ trơng đổi mới doanh nghiệp thì cổ phần hóa DNNN đã có đợc
những thành công và những hạn chế nhất định.
1.Những thành tựu.
1.1. Những thành tựu mang tính định l ợng .
Chủ trơng cổ phần hóa DNNN đã đợc thực hiện ở nớc ta hơn 10 năm qua.
Cho đến nay thì cả nớc đã cổ phần hóa đợc 1790 DNNN. Trong 10 tháng của
năm 2003 thì trong số 766 DNNN thực hiện việc chuyển đổi thì có 425 doanh
nghiệp cổ phần hóa (nguồn t ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp). Từ thực
tiễn có thể thấy cổ phần hóa là hình thức chuyển đổi sở hữu chiếm u thế trong
quá trình đổi mới sắp xếp lại DNNN.
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Giai on S DN c phn
hoỏ
Thớ im (1992 gia 1996) 5
M rng thớ im theo Ngh nh 28/CP (gia 1996 - gia 1998) 25
y mnh c phn hoỏ theo Ngh nh 44/1998/N-CP (1998-2001) 745
Tip tc y mnh c phn hoỏ theo Ngh nh 64/2002/N-CP 2002 164
2003 611
Tng 1550
Đề án môn học
Từ năm 1992 đến tháng 6 năm 1998 cả nớc đã cổ phần hóa đợc 30 DNNN.
Trong đó có 5 doanh nghiệp đợc cổ phần hóa theo cơ chế, chính sách thí điểm
qui đinh tại quyết định 202/CT của Hội đồng bộ trởng, 25 doanh nghiệp đợc cổ
phần hóa theo tinh thần Nghị định 28/CP của Chính phủ. Các doanh nghiệp đợc
cổ phần hóa trong thời gian này nhìn chung đều có những tiến bộ về năng suất,
chất lợng và hiệu quả. Cổ phần hóa đã thu hút đợc một nguồn vốn khá lớn trong
xã hội tạo đợc động lực tốt cho doanh nghiệp phát triển, phát huy tích cực tính
chủ động sáng tạo của ngời lao động. Từ đó góp phần làm tăng ngân sách Chính
phủ, giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động đồng thời khắc phục bớt đợc
những tiêu cực trong các doanh nghiệp.
Từ 2/6/1998 đến 31/12/1999 đã có thêm 340 DNNN và bộ phận DNNN đợc
chuyển thành công ty cổ phần. Riêng trong năm 1999 đã có 250 doanh nghiệp
đợc cổ phần. Nhìn chung sau khi Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ra đời cổ phần
hóa DNNN đã đạt đợc những tiến bộ đáng kể. Nghị định số 44/1998/NĐ-CP đã
quy định các chính sách khuyến khích đối với doanh nghiệp và ngời lao động
trong doanh nghiệp cổ phần hóa một cách rõ ràng và cụ thể hơn; Có sự quan tâm
hơn đến ngời lao động đặc biệt là ngời lao động nghèo. Chính đây là nguyên
nhân khiến chủ trơng cổ phần hóa trở nên hấp dẫn hơn đối với doanh nghiệp
cũng nh ngời lao động.
Từ tháng 1/2000 đến cuối tháng 11/2002 cả nớc đã cổ phân hóa đợc 523 doanh
nghiệp, đa tổng số doanh nghiệp đợc cổ phần hóa lên 907 doanh nghiệp. Năm
2002 đã có 427 DNNN đợc sắp xếp lại trong đó 164 doanh nghiệp đợc cổ phần
hóa. Năm 2003 có 766 doanh nghiệp đợc sắp xếp lại bằng 48% so với kế hoạch,
trong đó có 425 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp đợc cổ phần hóa. Và
cho đến nay thì đã có 1.790 doanh nghiệp Nhà nớc đợc cổ phần hóa. Nh vậy
càng về sau thì tốc độ cổ phần hóa càng đợc đẩy mạnh và càng về sau thì quy
mô các doanh nghiệp Nhà nớc đợc cổ phần hóa hoặc chuyển đổi dới hình thức
khác càng lớn. Trớc kia cả nớc có khoảng 12.000 DNNN phần lớn các DNNN
có quy mô vốn rất nhỏ và chiếm lĩnh hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc
dân. hơn 10 năm qua chúng ta đã sắp xếp điều chỉnh còn lại khoảng 5.000 doanh
nghiệp, tuy hiệu quả cha cao, cha tơng xứng với vị trí tiềm năng của nó nhng các
doanh nghiệp Nhà nớc đã có những đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc dân:
63,8%GDP, 63% ngân sách, 72% kim ngạch xuất khẩu, trong khi 120.000
doanh nghiệp ngoài quốc doanh kể cả doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài chỉ
đóng góp 20%GDP, 15% nguồn thu ngân sách, 12,5% kim ngạch xuất khẩu.
Trong điều kiện đó thì cổ phần hóa DNNN là một giải pháp tốt để phát huy hiệu
quả khu vực kinh tế quốc doanh, thể hiện là một khu vực kinh tế năng động, d-
ờng cột của nền kinh tế. Qua khảo sát 500 doanh nghiệp đã cổ phần hóa trên 1
GVHD: TS. Vũ Thị Minh
Đề án môn học
năm cho thấy : vốn điều lệ tăng 50%, doanh thu tăng 60%, lợi nhuận trớc thuế
tăng 13,7%, nộp ngân sách tăng 45%, thu nhập của ngời lao động tăng 63%, cổ
tức trung bình là 15,5%, số lao đôngb tăng 23%. Trớc năm 2003 số DNNN đợc
cổ phần hóa có vốn trên 10 tỷ chỉ chiếm 7,9% thì năm 2003 là 15%. Đây chính
là những con số báo hiệu những chuyển biến tích cực của tiến trình cổ phân hóa
DNNN.
1.2. Thành tựu của cổ phần hóa DNNN đối với hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp cổ phần hóa và tác động của nó tới việc giải
quyết công ăn việc làm cho ng ời lao động.
Bênh cạnh những kết quả về mặt số lợng đã đợc đề cập ở trên việc thực hiện chủ
trơng cổ phần hóa DNNN còn đem lại những hiệu quả quan trọng về mặt kinh tế
xã hội.
1.2.1. Về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau khi tiến
hành cổ phần hóa.
Xét một cách tổng thể thì phần lớn các DNNN sau khi chuyển thành công
ty cổ phần đều hoạt động có hiệu quả hơn trớc. Qua báo cáo của các doanh
nghiệp cổ phần hóa sau khi hoạt động đợc một năm thì doanh thu bình quân của
các doanh nghiệp tăng gần gấp hai lần so với trớc khi tiến hành cổ phần hóa kể
cả những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Điển hình nh công ty GEMADEPT khi
bớc vào cổ phần hóa vốn Nhà nớc chỉ có 1,2 tỷ đồng đợc đánh giá lên thành 6 tỷ
đồng, sau bảy năm hoạt động theo mô hình mới tổng số vốn đã lên tới 140 tỷ
đồng; Hay nh công ty bông Bạch Tuyết năm 1999 đạt 86 tỷ đồng, gấp 1,5 lần so
với số doanh thu trớc khi thực hiện cổ phần hóa là 55 tỷ đồng năm 1998. Lợi
nhuận của doanh nghiệp tăng bình quân hơn hai lần, cổ tức bình quân đạt từ 1-
2% một tháng. Vốn của doanh nghiệp tăng gần 2,5 lần so với trớc khi tiến hành
cổ phần hóa. Chính nhờ hoạt động có hiệu quả các DNNN thực hiện cổ phân
hóa chính là những công ty cổ phần đầu tiên niêm yết trên thị trờng chứng
khoán ở Việt Nam. điều này làm tăng uy tín cũng nh vị thế của các DNNN đợc
cổ phần hóa trên thơng trờng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để cho các doanh
nghiệp này có đợc một chổ đứng tốt trong nền kinh tế Việt Nam đang trong đà
hội nhập và phát triển.
1.2.2. Về huy động vốn .
Việc thực hiện chủ trơng cổ phần hóa DNNN đã tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp thu hút đợc một nguồn vốn lớn trong xã hội để đầu t phát triển sản
xuất kinh doanh. Chỉ tính riêng 370 DNNN đợc cổ phần hóa tính đến ngày
31/12/1999 thì tại thời điểm cổ phần hóa giá trị phần vốn Nhà nớc của các
doanh nghiệp này là 1.349 tỷ đồng qua cổ phần hóa đã thu hút thêm đợc 1.432
GVHD: TS. Vũ Thị Minh

sach the gioi phang


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "sach the gioi phang": http://123doc.vn/document/547256-sach-the-gioi-phang.htm


Tặng Matt
và Kay
và Ron
Mục Lục
Lời giới thiệu
Thế giới Trở thành Phẳng Thế nào
Một: Khi Tôi Còn Đang Ngủ / 3
Hai: Mười Lực Làm Phẳng Thế giới / 48
Lực làm phẳng # 1. 9/11/89 / 48
Lực làm phẳng # 2. 9/8/95 / 56
Lực làm phẳng # 3. Phần mềm Work Flow / 71
Lực làm phẳng # 4. Open-Sourcing / 81
Lực làm phẳng # 5. Outsourcing / 103
Lực làm phẳng # 6. Offshoring / 114
Lực làm phẳng # 7. Xâu Chuỗi cung / 128
Lực làm phẳng # 8. Insourcing / 141
Lực làm phẳng # 9. In-forming / 150
Lực làm phẳng # 10. Các Steroid / 159
Ba: Ba sự Hội tụ / 173
Bốn: Sự Sắp xếp Vĩ đại / 201
Mĩ và Thế giới Phẳng
Năm: Mĩ và Tự do Thương mại / 225
Sáu: Những Tiện dân / 237
Bảy: Cuộc Khủng hoảng Trầm lặng / 250
Tám: Đây Không phải là một Thử nghiệm / 276
Các Nước Đang Phát triển và Thế giới Phẳng
Chín: Đức mẹ đồng trinh Guadalupe / 309
Các Công ti và Thế giới Phẳng
Mười: Các công ti đối phó thế nào / 339
Địa Chính trị và Thế giới Phẳng
Mười một: Thế giới Không phẳng / 371
Mười hai: Lí thuyết Dell về Ngăn ngừa Xung đột / 414
Kết luận: Sức Tưởng tượng
Mười ba: 9/11 đối lại 11/9 / 441
Lời Cảm ơn / 471
Chỉ mục / 475
LỜI GIỚI THIỆU
Bạn đọc cầm trên tay cuốn thứ mười ba
*
của tủ sách SOS
2
, cuốn
Thế giới Phẳng của Thomas L. Freedman. Cuốn sách được in và
phát hành lần đầu vào tháng 4-2005. Đây là cuốn sách thứ tư của
Freedman, cuốn thứ hai, Xe Lexus và Cây Ôliu, vừa được Nhà xuất
bản Khoa Học Xã hội xuất bản bằng tiếng Việt. T. L. Freedman là
nhà báo nổi tiếng của tờ New York Times, đi nhiều, gặp gỡ với rất
nhiều nhân vật nổi tiếng, với con mắt hết sức sắc sảo, ông trình bày
những vấn đề toàn cầu hoá rất súc tích và sinh động, ông trình bày
những vấn đề khô khan, khó hiểu một cách sáng sủa, dí dỏm, dùng
nhiều ẩn dụ giúp bạn đọc lĩnh hội vấn đề một cách dễ dàng.
Tôi nghĩ cuốn sách rất bổ ích cho các nhà chính trị, các nhà
hoạch định chính sách, vì nó trình bày những thách thức của thế giới
phẳng đối với Mĩ, với thế giới đang phát triển, với các công ti, nên
các loại độc giả này sẽ có thể thấy thông tin và ý tưởng của
Freedman gây kích thích. Các học giả chắc sẽ học được cách trình
bày đơn giản nhiều vấn đề phức tạp. Tôi nhiệt thành khuyên giới trẻ
và các doanh nhân hãy đọc cuốn sách này, vì nó sẽ bổ ích cho họ để
xác định lại mình trong học tập, khởi nghiệp, học và làm việc suốt
đời. Tất nhiên cuốn sách cũng bổ ích cho tất cả những ai quan tâm
đến tương lai, việc làm, công nghệ, khoa học, và sáng tạo.
Người dịch đã cố hết sức để làm cho bản dịch được chính xác và
dễ đọc, song do hiểu biết có hạn nên khó thể tránh khỏi sai sót. Phần
chỉ mục nội dung, ở mỗi mục chính (và cả ở mục phụ nếu chúng tôi
thấy thuật ngữ có thể là lạ), có kèm theo thuật ngữ tiếng Anh để bạn
*
Các quyển trước gồm:
1. J. Kornai: Con đường dẫn tới nền kinh tế thị trường, Hội Tin học Việt
Nam 2001, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin (NXB VHTT) 2002.
2. J. Kornai: Hệ thống Xã hội chủ nghĩa, NXB Văn hoá Thông tin 2002
3. J. Kornai- K. Eggleston: Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, NXB VHTT
2002
4. G. Soros: Giả kim thuật tài chính, sắp xuất bản
5. H. de Soto: Sự bí ẩn của tư bản, sắp xuất bản
6. J. E. Stiglitz: Chủ nghĩa xã hội đi về đâu? sắp xuất bản
7. F.A. Hayek: Con đường dẫn tới chế độ nông nô, sắp xuất bản
8. G. Soros: Xã hội Mở, sắp xuất bản
9. K. Popper: Sự Khốn cùng của Chủ nghĩa lịch sử, sắp xuất bản.
10. K. Popper: Xã hội mở và những kẻ thù của nó, I, Plato
11. K. Popper: Xã hội mở và những kẻ thù của nó, II, Hegel và Marx
12. Thomas S. Kuhn: Cấu trúc của các cuộc Cách mạng Khoa học
đọc tiện tham khảo; tác giả dùng nhiều từ mới, một số từ được để
nguyên bằng tiếng Anh, phần giải thích nghĩa có thể tìm thấy ở Chỉ
mục.
Những người dịch cuốn sách này gồm: Cao Việt Dũng (các
Chương 9, 10, 11, 12) và Nguyễn Tiên Phong (Chương 13), phần
còn lại tôi dịch và đảm đương việc hiệu đính chung. Tôi thành thật
xin lỗi các cộng sự vì đã soát lại và sửa từng câu của các chương đó.
Làm vậy có thể mất cái hay của bản dịch ban đầu, kể cả cách viết
chính tả nhưng để cho bản dịch được nhất quán tôi đã sửa rất nhiều,
phần hay là của họ, các lỗi và thiếu sót là của tôi. Tôi chịu trách
nhiệm về mọi lỗi và sai sót của toàn bộ bản dịch.
Mọi chú thích của tác giả được đánh bằng số. Tất cả các chú
thích đánh dấu sao (
*
) ở cuối trang là của người dịch. Trong văn bản
đôi khi người dịch có đưa thêm từ hay cụm từ để cho câu được rõ
nghĩa, phần đó được đặt trong dấu [như thế này]. Bản dịch chắc còn
nhiều thiếu sót mong bạn đọc thông cảm, lượng thứ, và chỉ bảo; xin
liên hệ theo địa chỉ Tạp chí Tin học và Đời sống, 54 Hoàng Ngọc
Phách Hà Nội [25/B7 Nam Thành Công], hoặc qua điện thư
thds@hn.vnn.vn hay nqa@netnam.vn
09-2005
Nguyễn Quang A
Thế giới
Trở thành Phẳng
Thế nào

MỘT
Khi Tôi Còn Đang Ngủ
Tâu các Hoảng tử, với tư cách những người Công giáo Cơ đốc, và các
hoàng tử những người yêu mến và thúc đẩy niềm tin Công giáo linh
thiêng, và là những kẻ thù của học thuyết Mohamet, và của mọi sự sùng
bái thần tượng và dị giáo, đã quyết định cử tôi, Christopher Columbus,
đi đến các miền nói trên của Ấn Độ, để xem các hoàng tử, nhân dân, và
các vùng đất ấy, và để tìm hiểu tính khí của họ và phương pháp thích
hợp nhằm cải biến họ theo niềm tin linh thiêng của chúng ta; và hơn
nữa đã chỉ dẫn rằng tôi không được đi bằng đường bộ theo hướng
Đông, như lệ thường, mà bằng đường phía Tây, theo hướng mà đến nay
chúng ta không có bằng chứng chắc chắn nào rằng đã có bất cứ ai đi.
- Từ nhật kí của Christopher Columbus về chuyến đi 1492 của ông
hẳng ai đã từng chỉ hướng cho tôi như thế này trên một sân golf
trước đây: “Hãy nhắm vào hoặc Microsoft hay IBM”. Tôi đứng
ở điểm phát bóng đầu tiên tại sân golf KGA Golf Club ở khu trung
tâm thành phố Bangalore, miền nam Ấn Độ, khi bạn chơi của tôi trỏ
vào hai cao ốc bằng kính-và thép bóng loáng nổi bật lên ở đằng xa,
đúng sau thảm cỏ xanh đầu tiên. Cao ốc Goldman Sachs vẫn chưa
xong; nếu không thì anh ta đã có thể trỏ vào cái đó nữa và biến nó
thành bộ ba. HP và Texas Instrument có văn phòng của họ ở sau lỗ
thứ chín, dọc theo lỗ thứ mười. Đó không phải là tất cả. Các mốc
phát bóng là của Epson, công ti máy in, và một trong những người
xách gậy của chúng tôi đội mũ 3M. Bên ngoài, một số biển hiệu giao
thông cũng do Texas Instrument tài trợ, và bảng quảng cáo Pizza
C
THẾ GIỚI LÀ PHẲNG
Hut trên đường trưng một miếng pizza bốc hơi, dưới đầu đề “Các
miếng giga đầy Hương vị!”
Không, đấy dứt khoát không phải Kansas. Thậm chí không có vẻ
giống Ấn Độ. Đấy là Thế giới Mới, Thế giới Cũ, hay Thế giới tiếp?
Tôi đã đến Bangalore, Silicon Valley của Ấn Độ, bằng hành trình
khám phá của riêng tôi giống của Columbus. Columbus đã đi thuyền
buồm với các tàu Niña, Pinta, và Santa María trong một nỗ lực để khám
phá ra một đường ngắn hơn, trực tiếp hơn đến Ấn Độ bằng hướng
về phía tây, qua Đại Tây Dương, mà ông cho là đường biển khơi đến
Đông Ấn – hơn là đi xuống phía nam và đông vòng qua châu Phi,
như những người khai phá Bồ Đào Nha thời ông đã thử đi. Ấn Độ
và các Hòn đảo Gia Vị phương Đông nổi tiếng một thời về vàng,
ngọc, đá quý, và tơ lụa của họ - một nguồn vật báu không kể xiết.
Tìm đường tắt qua biển này đến Ấn Độ, ở thời khi các thế lực Hồi
giáo ngày đó đã chặn các đường bộ từ châu Âu, đã là một cách cho
cả Columbus và nền quân chủ Tây Ban Nha trở nên giàu có và hùng
mạnh. Khi Columbus căng buồm, hiển nhiên ông đã cho rằng Trái
đất tròn, đó là vì sao ông lại tin chắc rằng ông có thể đến Ấn Độ
bằng cách đi về phương tây. Tuy nhiên, ông đã tính sai quãng
đường. Ông nghĩ Trái Đất là một quả cầu nhỏ hơn. Ông cũng đã
không dự kiến gặp một vùng đất rộng trước khi ông đến được Đông
Ấn. Tuy nhiên, ông đã gọi các thổ dân mà ông đã gặp ở thế giới mới
là các “Indian-dân da đỏ” [những người Ấn Độ]. Quay về nhà, tuy
thế, Columbus đã có thể nói cho những người đỡ đầu ông, Vua
Ferdinand và Hoàng hậu Isabella, rằng mặc dù ông không thấy Ấn
Độ, ông có thể xác nhận rằng thế giới quả thực tròn.
Tôi bắt đầu đi Ấn Độ theo đúng hướng đông, qua Frankfurt. Tôi
dùng Lufthansa với vé hạng thương gia. Tôi biết chính xác hướng
mình đi nhờ bản đồ GPS hiện trên màn hình thòi ra từ ngăn của ghế
ngồi trên máy bay. Tôi hạ cánh an toàn và đúng giờ. Tôi cũng đã gặp
những người được gọi là Indian. Tôi cũng đã đi tìm nguồn giàu có
của Ấn Độ. Columbus đã tìm phần cứng – các kim loại quý, tơ lụa,
và gia vị - nguồn giàu có trong thời ông. Tôi đã tìm phần mềm, năng
lực trí óc, các thuật giải phức tạp, các công nhân tri thức, các call
center [trung tâm phục vụ khách hàng qua điện thoại], các giao thức
truyền, những đột phá về kĩ thuật quang học – các nguồn giàu có của
thời chúng ta. Columbus đã vui sướng biến những người Indian ông
gặp thành các nô lệ, một quỹ lao động chân tay tự do.
4
KHI TÔI CÒN ĐANG NGỦ
Tôi chỉ muốn hiểu vì sao những người Indian tôi gặp lại lấy việc
làm của chúng ta, vì sao họ trở thành một quỹ quan trọng như vậy
cho outsourcing [thuê làm ngoài] dịch vụ và việc làm công nghệ
thông tin (CNTT) từ Hoa Kì và các nước công nghiệp khác.
Columbus có hơn một trăm người trên ba tàu của ông; tôi có một
nhóm nhỏ từ kênh Discovery Times vừa thoải mái trong hai xe tải dã
chiến, với các lái xe Ấn Độ đi chân trần. Khi căng buồm, ấy là nói
vậy, tôi cũng đã cho rằng thế giới là tròn, song cái tôi bắt gặp ở Ấn
Độ thật đã hết sức làm lung lay niềm tin của tôi vào ý niệm đó.
Columbus tình cờ gặp châu Mĩ song ông nghĩ mình đã khám phá ra
một phần Ấn Độ. Tôi thực sự thấy Ấn Độ và nghĩ nhiều người tôi
gặp ở đó là những người Mĩ. Một số đã thực sự lấy tên Mĩ, và những
người khác bắt chước rất cừ giọng nói Mĩ ở các call center và các kĩ
thuật kinh doanh Mĩ ở các phòng thí nghiệm phần mềm.
Columbus tâu lên vua và hoàng hậu của mình rằng thế giới tròn và
ông đã đi vào lịch sử như người đầu tiên khám phá ra điều này. Tôi
quay về nhà và chia sẻ sự phát hiện chỉ với vợ, và chỉ thì thầm.
“Em yêu”, tôi thủ thỉ, “anh nghĩ thế giới là phẳng”.
àm sao tôi đã đi đến kết luận này? Tôi nghĩ bạn có thể nói tất cả
bắt đầu trong phòng họp của Nadan Nilekani ở công ti Infosys
Technologies Limited. Infosys là một trong các báu vật của thế giới
CNTT Ấn Độ, và Nilekani, CEO [Tổng điều hành] của công ti, một
trong những thuyền trưởng chín chắn và được kính trọng nhất của
nền công nghiệp Ấn Độ. Tôi đi xe với nhóm Discovery Times đến
khu Infosys, khoảng bốn mươi phút từ trung tâm Bangalore, để thăm
cơ sở và phỏng vấn Nilekani. Đến khu Infosys bằng con đường sứt
sẹo, với các chú bò linh thiêng, các xe ngựa kéo, và các xe kéo có
động cơ tất cả cùng chen lấn sát cạnh xe chúng tôi. Tuy nhiên, một
khi bước vào cổng Infosys bạn ở trong một thế giới khác. Một bể
bơi lớn cỡ khu nghỉ mát nép mình gữa các tảng đá mòn và những dải
cỏ được cắt tỉa, sát kề một bãi cỏ khổng lồ như một sân golf nhỏ. Có
vô số quán ăn và một câu lạc bộ sức khoẻ tuyệt vời. Các cao ốc
kính-và-thép dường như mọc lên giống cỏ dại mỗi tuần. Trong một
số cao ốc đó, các nhân viên Infosys đang viết các chương trình phần
mềm cụ thể cho các công ti Mĩ hay châu Âu; trong các cao ốc khác,
họ thực hiện những công việc hậu trường của các công ti siêu quốc
L
5