ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Hệ số E Cấp bảo vệ lựa chọn Dòng xung đỉnh
( KA)
Khoảng cách tiên đạo
( m )
E > 0,98 Cấp 1 + biện pháp bảo
vệ bổ sung
- -
0,95 [ E
≤
0,98 Cấp 1 2,8 20
0,8 [ E < 0,95 Cấp 2 9,5 45
0 < E < 0,8 Cấp 3 14,7 60
Khi một hệ thống chống sét có hệ số E
’
nhỏ hơn hệ số tính toán E thì phải sử
dụng một số biện pháp bổ sung để tăng cường hiệu quả của các hệ thống, các biện
pháp tiêu biểu là :
♦ Giảm điện áp bước và điện áp tiếp xúc.
♦ Giảm ảnh hưởng quá điện áp xung lên các thiết bò điện tử.
4. Lưu đồ:
S
Đ
S
Đ S
Đ
Đ S
TRANG 53
Bắt đầu
Nhập các thông số L, W, H, C1,
C2, C3, C4, C5, Ngm
Nc:=5.5/C2*C3*C4*C5
Ac:=L*W+6*H*(L+W)+9*π*H²
Nd:=Ac*C1*Ngm*10-²
Nd>
Nc
0.95≤E
≤0.98
0.8≤E<0.95
E>0.
98
E:=1-Nc/Nd
Không cần
bảo vệ
Cấp 1 + bổ sung
Cấp 1
E:=1-Nc/Nd E:=1-Nc/Nd
Cấp 2
Cấp 3
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
5. Hướng dẫn sử dụng:
♦ Khởi động MATLAB 5.3.
♦ Chuyển thư mục hiện hành sang ổ đóa A bằng cách đánh
c:\>cd A:\ ↵
♦ Sau đó gọi file spkt bằng cách ngập lệnh spkt tại dấu nhắc của
chương trình :
A:\>spkt↵
♦ Giao diện của chương trình xuất hiện như hình ve.õ
♦ Nhập mật khẩu " anh " vào ô mật khẩu và nhấn phím Enter (↵)
TRANG 54
Kết thúc
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
♦ Cửa sổ làm việc của chương trình xuất hiện như hình vẽ :
♦ Nhập các thông số cần thiết vào: chiều dài L, chiều rộng W,
chiều cao H, mật độ phóng điện sét trong một năm trên một km Ngm,
các hệ số của công trình: C1, C2, C3, C4, C5.
♦ Đưa con trỏ tới mục tính toán, ấn phím Enter (↵ ).
♦ Chương trình tự động tính toán và đưa ra kết quả.
6. Các kết quả:
Nhập vào các thông số: dài L=68m, rộng W=40m, cao H=11m, C1=1, C2=2,
C3=3, C4=3, C5=10. Kết quả tính toán được hiển thò như sau:
TRANG 55
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Thay đổi các thông số cần tính toán, dài L=44m, rộng W=25m, cao H=11m,
c1=1, c2=2, C3=3, C4=3, C5=10 ta được kết quả như sau :
7. Mã nguồn:
a) Demo
function demo()
t=(1:2:15)'*pi/8;
x=sin(t);
TRANG 56
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
y=cos(t);
fill(x,y,'r');
axis equal;
text(0,0,'CHỐNG SÉT','color',[1 1 1],
'fontname','Vni-times','fontsize',40,
'HorizontalAlignment','center');
b) Giao diện:
*Tao cac giao dien
pw=get(h1_Epw,'string');
if strcmp(pw,'anh')
set(h1_Title1,'visible','off');
set(h1_CT,'visible','off');
set(h1_HCG,'visible','off');
set(h1_TPW,'visible','off');
set(h1_Epw,'visible','off');
set(h1_THE,'visible','on');
set(h1_Frame1,'visible','on');
set(h1_Frame2,'visible','on');
set(h1_Frame3,'visible','on');
set(h1_Frame4,'visible','on');
set(h1_Tlwh,'visible','on');
set(h1_TL,'visible','on');
set(h1_TW,'visible','on');
set(h1_TH,'visible','on');
set(h1_Ngmax,'visible','on');
set(h1_EL,'visible','on');
set(h1_EW,'visible','on');
set(h1_EH,'visible','on');
set(h1_ENgmax,'visible','on');
set(h1_TC,'visible','on');
set(h1_TC1,'visible','on');
set(h1_TC2,'visible','on');
set(h1_TC3,'visible','on');
set(h1_TC4,'visible','on');
TRANG 57
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
set(h1_TC5,'visible','on');
set(h1_PC1,'visible','on');
set(h1_PC2,'visible','on');
set(h1_PC3,'visible','on');
set(h1_PC4,'visible','on');
set(h1_PC5,'visible','on');
set(h1_TKQ,'visible','on');
set(h1_TNd,'visible','on');
set(h1_TNc,'visible','on');
set(h1_TE,'visible','on');
set(h1_ENd,'visible','on');
set(h1_ENc,'visible','on');
set(h1_EE,'visible','on');
set(h1_BAction,'visible','on');
demo;
end
c) spkt
load SPKT
h0 = figure('Units','points',
'Color',[0 0 0],
'Colormap',mat0,
'FileName','SPKT',
'MenuBar','none',
'Name','HE CHUYEN GIA CHONG SET',
'NumberTitle','off',
'PaperPosition',[18 180 576 432],
'PaperUnits','points',
'Position',[0 21 480 324.75],
'Tag','Fig1',
'ToolBar','none',
'DefaultaxesColor','none',
'DefaultaxesXColor',[1 0 1],
'DefaultaxesYColor',[1 0 1],
TRANG 58
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
'DefaultaxesZColor',[1 0 1]);
h1_axes = axes('Parent',h0,
'Units','pixels',
'CameraUpVector',[0 1 0],
'Color',[0 0 0],
'ColorOrder',mat1,
'Position',[232 45 386 314],
'Tag','Axes1',
'visible','off',
'XColor',[1 0 1],
'YColor',[1 0 1],
'ZColor',[1 0 1]);
h1_Title1 = uicontrol('Parent',h0,
'Units','points',
'BackgroundColor',[0 0 0],
'FontName','Vni-times',
'FontSize',20,
'ForegroundColor',[1 0 0],
'ListboxTop',0,
'Position',[37.5 242.25 405.75 59.25],
'String','TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
KHOA ĐIỆN ĐIỆN TỬ',
'Style','text',
'Tag','StaticText1');
h1_CT = uicontrol('Parent',h0,
'Units','points',
'BackgroundColor',[0 0 0],
'FontName','Vni-times',
'FontSize',15,
'ForegroundColor',[0 1 0],
'ListboxTop',0,
'Position',[43.5 198 96.75 19.5],
'String','Chương trình',
'Style','text',
TRANG 59
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
'Tag','StaticText2');
h1_HCG = uicontrol('Parent',h0,
'Units','points',
'BackgroundColor',[0 0 0],
'FontName','Vni-times',
'FontSize',30,
'ForegroundColor',[0 0 1],
'ListboxTop',0,
'Position',[57.75 129 395.25 37.5],
'String','XÁC ĐỊNH MỨC BẢO VỆ CHỐNG SÉT',
'Style','text',
'Tag','StaticText3');
h1_TPW = uicontrol('Parent',h0,
'Units','points',
'BackgroundColor',[0 0 0],
'FontName','Vni-times',
'FontSize',15,
'ForegroundColor',[0 1 0],
'ListboxTop',0,
'Position',[124.5 54.75 102 21.75],
'String','Nhập mật khẩu',
'Style','text',
'Tag','StaticText4');
h1_Epw = uicontrol('Parent',h0,
'Units','points',
'BackgroundColor',[1 1 1],
'ListboxTop',0,
'Position',[233.25 56.25 84.75 18],
'Style','edit',
'callback','giaodien',
'Tag','EditText1');
h1_THE = uicontrol('Parent',h0,
'Units','points',
TRANG 60
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
'BackgroundColor',[0 1 0],
'FontName','Vni-times',
'FontSize',18,
'ForegroundColor',[0.501960784313725 0
0.501960784313725],
'ListboxTop',0,
'Position',[162.75 287.25 306.75 25.5],
'String','XÁC ĐỊNH MỨC BẢO VỆ',
'visible','off',
'Style','text',
'Tag','StaticText5');
h1_Frame1 = uicontrol('Parent',h0,
'Units','points',
'BackgroundColor',[0.501960784313725
0.501960784313725 0.501960784313725],
'ListboxTop',0,
'Position',[3 7.5 150 315.75],
'Style','frame',
'visible','off',
'Tag','Frame1');
h1_Frame2 = uicontrol('Parent',h0,
'Units','points',
'BackgroundColor',[0.501960784313725
0.501960784313725 0.250980392156863],
'ListboxTop',0,
'Position',[9 222.75 138.75 79.5],
'Style','frame',
'visible','off',
'Tag','Frame2');
h1_Tlwh = uicontrol('Parent',h0,
'Units','points',
'BackgroundColor',[0.501960784313725
0.501960784313725 0.501960784313725],
'FontName','Vni-times',
'FontSize',11,
TRANG 61
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
'ForegroundColor',[0 1 0.250980392156863],
'ListboxTop',0,
'Position',[12.75 304.5 129 16.5],
'String','Nhập các thông số',
'Style','text',
'visible','off',
'Tag','StaticText6');
h1_TL = uicontrol('Parent',h0,
'Units','points',
'BackgroundColor',[0.501960784313725
0.501960784313725 0.250980392156863],
'FontName','Vni-times',
'FontSize',10,
'ForegroundColor',[1 0 0],
'ListboxTop',0,
'Position',[10.5 288 64.5 12],
'String','Thông số L',
'Style','text',
'visible','off',
'Tag','StaticText7');
h1_TW = uicontrol('Parent',h0,
'Units','points',
'BackgroundColor',[0.501960784313725
0.501960784313725 0.250980392156863],
'FontName','Vni-times',
'FontSize',10,
'ForegroundColor',[1 0 0],
'ListboxTop',0,
'Position',[10.5 269.25 64.5 12],
'String','Thông số W',
'Style','text',
'visible','off',
'Tag','StaticText7');
h1_TH = uicontrol('Parent',h0,
'Units','points',
TRANG 62
Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014
Biện pháp hoàn thiện trả lương sản phẩm ở Công ty Bê tông- Thép Ninh Bình.DOC
cha đáp ứng đợc những đòi hỏi cần thiết dể phát triển đất nớc cũng nh thu
hút đầu t nớc ngoài vào Việt Nam. Trong khoảng thời gian này, thì nhu
cầu về vật liệu xây dựng rất lớn đặc biệt là thép xây dựng vì tại thời điểm
đó cả miền Bắc mới chỉ có nhà máy Gang thép Thái Nguyên, không
những thế mà thép phế liệu trôi nổi trên thị trờng không đợc sử dụng
đúng mục đích .
UBND tỉnh Ninh Bình đã cho đầu t xây dựng một dây chuyền luyện cán
thép công suất 3000 tấn/ năm và Xí nghiệp đợc đổi tên thành Công ty Bê
tông- Thép Ninh Bình theo quyết định số 499/ QĐ-UB ngày 10- 12- 1992
của UBND tỉnh Ninh Bình .
Trong khoảng thời gian này Công ty đã đợc trang bị thêm 2 lò luyện
thép, 2 cầu trục, máy cắt, máy hàn phục vụ cho phân xởng luyện thép, 2
máy cán thép, 1 cầu trục và hệ thống sàn nguội, máy cắt phục vụ cho phân
xởng luyện thép. Cũng trong năm 1992, Công ty đã tận dụng cơ sở hạ tầng
của đơn vị trực thuộc là Nhà máy xi măng Ninh Xuân mở rộng công ty ra
sát đờng quốc lộ I nhằm thuận tiện cho việc kinh doanh .
Năm 1994, cải tạo, đầu t chiều sâu, nâng công suất và chất lợng luyện
cán thép xây dựng từ 6 đến 25 , công suất 10.000 tấn / năm. Trong
khoảng thời gian này, Công ty đợc UBND tỉnh công nhận là Doanh nghiệp
loại 1 dựa vào những đóng góp của Công ty vào ngân sách của Tỉnh và
những bớc tiến vợt bậc trong doanh thu của công ty cũng nh thu nhập của
ngời lao động.
Năm 1999 tiếp tục đầu t ,cải tạo dây chuyền luyện cán thép, nâng công
suất cán thép từ 10.000 tấn / năm lên 15.000 tấn / năm .
Năm 2001, Công ty lắp đặt thêm dàn quay li tâm và bổ sung thêm 1
cầu trục,5 máy trộn bê tông tăng sản lợng bê tông lên 6.000 m
3
/ năm.
Cũng trong năm Công ty đợc nhà nớc phong tặng danh hiệu Anh hùng
lao động. Đây là phần thởng xứng đáng ghi nhận những đóng góp của
Công ty cho sự nghiệp phát triển Kinh tế Xã hội của toàn tỉnh cũng
nh của cả nớc.
5
Năm 2002 , Đầu t mở rộng dây chuyền sản xuất cột điện ly tâm, nâng
năng lực sản xuất lên 15.000 cột /năm. Tăng Giá trị sản xuất công nghiệp
lên 83.894 triệu đồng trong năm 2002.
Đầu năm 2003, đầu t chiều sâu cho dây chuyền luyện cán thép, nâng khả
năng tự động hoá đối với công nghệ luyện thép là đáng kể, một mặt nâng cao chất
lợng sản phẩm, mặt khác giảm nhẹ cờng độ vất vả ở những nơi quá vất vả.
Một số đặc đIểm kinh tế- kỹ thuật chủ yếu của công
ty.
. Tính chất và nhiệm vụ sản xuất của công ty.
Công ty sản xuất 2 loại sản phẩm chính là:
- Sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn : cột điện bê tông ly tâm,
cột điện chữ H, chữ K, pa- nen, ống cống, cọc móng Năng lực sản xuất
hiện nay của phân xởng Bê tông là từ 1200 -> 1500 m
3
bê tông / tháng
- Luyện cán thép xây dựng: Từ thép phế liệu đa vào lò luyện
theo phơng pháp luyện hồ quang, rót thép nóng chảy vào khuân tạo thành
phôi thép, phôi thép đạt tiêu chuẩn sẽ sản xuất ra thép CT 3 và CT5. Đa phôi
vào lò nung đến nhiệt độ khoảng 1300
o
C , đa vào máy cán để cán thành
thép trơn CT3 và thép gai CT5 từ 6 đến 25
Ngoài ra Công ty còn có đội xây dựng chuyên thi công những
công trình xây dựng dân dụng và phân xởng Mộc.
+ sản xuất không ngừng tăng trởng, bảo toàn và tăng trởng đợc
vốn
+ Đời sống công nhân luôn đợc cải thiện
+ Nghĩa vụ với nhà nớc phải đầy đủ
Đặc điểm lao động
Với tổng số cán bộ công nhân viên 630 ngời tính đến tháng 4 năm 2004
trong đó: 45 ngời có trình độ đại học, 9 ngời có trình độ cao đẳng , 41 ngời có
trình độ trung cấp.Thợ bậc 1 đến 3 là 353 ngời ,bậc4-5 là 236 ngời,bậc 6-7 là 45
ngời.Tuổi đời bình quân 34,7 tuổi. Cán bộ công nhân nữ là 155 ngời chiếm 24%.
6
Một đặc điểm dễ nhận thấy tại công ty là lao động nữ chiếm tỷ lệ rất thấp
khoảng 24% còn lại đa phần là lao động nam. Sơ dĩ có điều này do việc sản
xuất bê tông và cán thép đòi hỏi trình độ lao động khá phức tạp và cần nhiều
đến yếu tố sức khỏe. Chính vì vậy làm lao động nữ ở Công ty rất thấp và phần
lớn lao động nữ thuộc bộ phận sản xuất gián tiếp. Không những thế, cơ cấu lao
động của công ty còn diễn ra tình trạng " " Thầy nhiều hơn thợ", thật vậy
trong khi số lợng kỹ s chiếm tới 9 % tổng số lợng lao động trong công ty thì số l-
ợng trung cấp kỹ thuật- những lao động tay nghề bậc cao thì chỉ chiếm 7%.
Đây là 1 thực trạng tiêu cực mà ban giám đốc công ty đang cố gắng điều chỉnh
trong những năm tới.
Nhận thức đợc vai trò quan trọng của lực lợng lao động trong việc thực
hiện mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, Công ty đã xây dựng
một hệ thống tuyển dụng lao động chặt chẽ do ban lãnh đạo và những cán bộ
có kinh nghiệm trực tiếp kiểm tra thông qua hai phần thi lý thuyết và thực
hành. Với hệ thống đó đã đảm bảo chất lợng lao động tại Công ty ngay từ đầu
vào.
Đặc điểm về nguồn cung ứng nguyên vật liệu
1.3.1. Nguyên vật liệu(NVL) để sản xuất cấu kiện bê tông:
- Thép: Đa từ phân xởng cán thép sang,không phải mua .
- Xi măng : Dùng Xi măng Nghi Sơn, Bỉm Sơn khoảng
4600 tấn/ năm .
7
75%
25%
Nam
Nu
9%
7%
84%
KI SU
TRUNG CAP
KI THUAT
CONG
NHAN
- Cát vàng : Nhập từ Thanh Hoá 7.500 m
3
/ năm.
- Đá 1x2 : Mua từ công ty Hệ Dỡng khoảng 11.000 m
3
/ năm
.
Nguyên vật liệu thu mua rất ổn định thuận tiện,không phảI dự trữ
nhiều.
1.3.2. NVL để sản xuất Thép( Luyện, Cán thép )
- Thép phế: Là nguyên liệu chính để luyện thành phôi thép,
phôi thép là nguyên liệu để cán thành thép xây dựng
Mỗi tháng sử dụng từ 1200 đến 1700 tấn / tháng
Thu mua từ 2 nguồn
. Từ miền Nam: Vận chuyển bằng tàu, thuyền.
. Từ miền Trung,miền Bắc vận chuyển bằng ô tô .
Việc thu mua thép phế hiện nay tơng đối khó khăn, giá cả
không ổn định do giá thép trên thị trờng thế giới cũng nh trong nớc
biến đổi .
- Vật liệu phụ: Các chất trợ dung nh để luyện thép và khuân
để đúc phôi thép .
. Than Kíp-lê nhập từ Quảng Ninh bằng đờng sắt
khoảng 1800 tấn / năm .
. Amiăng khoảng 4 tấn / năm .
Đặc điểm về thị trờng tiêu thụ và sức cạnh tranh;
Do doanh nghiệp sản xuất 2 loại sản phẩm chủ yếu là cột điện bê
tông ly tâm và thép xây dựng là những sản phẩm có đặc tính kinh tế- kỹ
thuật khác nhau nên đặc đIểm về thị trờng tiêu thụ của chúng có nhiều điểm
khác nhau.
1.5.1. Thị trờng tiêu thụ cột điện bê tông ly tâm.
Đối với cột điện bê tông ly tâm thì thị trờng rộng lớn do chính sách
điện khí hoá nông thôn và miền núi nên sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ ở cả
trong tỉnh lẫn ngoài tỉnh,hầu hết là các tỉnh phía Bắc từ Quảng Ninh trở ra:
Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, TháI Bình, Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh,
8
Bắc Giang, HảI Phòng, Hoà Bình và còn cả 1 số tỉnh miền Trung nh
Thanh Hoá,Nghệ An
Hầu hết các sản phẩm cột điện bêtông lại đợc tiêu thụ ở xa: các
tỉnh miền núi chiếm từ 70-80 % sản lợng, còn các tỉnh đồng bằng chỉ
chiếm từ 20-30 % sản lợng đó là do các tỉnh miền núi cha có điện ở 1 số
vùng sâu, vùng xa nên đợc đầu t xây dựng đờng điện mới,do đó nhu cầu về
cột điện cao.
Tuy nhiên chính do đặc điểm thị trờng rộng lớn không tập
trung, lại chủ yếu ở các tỉnh miền núi đã gây khó khăn cho doanh nghiệp
trong việc vận chuyển hành hoá đến tận chân công trình cho khách hàng
bởi đội ngũ xe chuyên dùng còn thiếu, số lợng cần trục bê tông còn ít
không đủ đáp ứng nhu cầu hiện tại.
1.5.2. Thị trờng tiêu thụ thép.
Thép đợc sản xuất ra, một phần sản lợng đợc dùng trong nội bộ công
ty.Đó là phân xởng bê tông mua thép trực tiếp từ phân xởng luyện và cán
thép là cốt trong quá trình sản xuất bê tông.
Phần sản lợng còn lạI đợc tiêu thụ chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc và
Miền Trung nh Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Thanh Hoá,Nghệ An
Tuy nhiên thị trờng sản phẩm thép của công ty đang bị thu hẹp do sự
cạnh tranh quyết liệt của các doanh nghiệp sản xuất thép t nhân trong tỉnh
và các tỉnh lân cận, nh doanh nghiệp Thép đặc biệt(Ninh Bình)và nhất là
Công ty Thép Tam Điệp với số vốn đầu t hơn 600 tỷ đồng, đợc trang bị
công nghệ hiện đại của Italia.
Đặc điểm về tài chính.
Công ty Bê tông- Thép Ninh Bình là 1 doanh nghiệp nhà nớc do đó
vốn sản xuất kinh doanh của công ty có chủ sở hữu là nhà nớc. Do đó mặc
dù doanh nghiệp là đơn vị hạch toán kinh doanh nhng các chỉ số tài chính
căn bản của công ty lại chịu sự điều tiết của đơn vị chủ quản mà cụ thể là Sở
Xây dựng Ninh Bình.
9
Hàng năm nhà nớc cấp cho doanh nghiệp tổng lợng vốn khoảng trên
30 tỷ đồng( có thể biến động qua từng năm tuỳ thuộc vào tình hình thực
tiễn) trong đó vốn lu động khoảng 2,3 tỷ đồng, vốn kinh doanh gần 6 tỷ
đồng, vốn cố định là trên 3 tỷ đồng. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải bảo
toàn và phát triển lợng vốn trên, phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với
nhà nớc nh nộp ngân sách, nộp thuế đồng thời phải tuân thủ các chỉ số kinh
tế căn bản nh chỉ số hiệu quả sử dụng vốn phải đạt trên 15, số vòng quay
toàn bộ vốn phải đạt trên 2,1.
Phần II. Phân tích thực trạng về công
táctrả
lơng theo sản phẩm ở
công ty bê tông- thép Ninh bình
10
1. phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty
Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất
Các chỉ tiêu Đơn
vị tính
Kế hoạch năm
2001
Thực hiện
năm 2001
So sánh
(%)
- Bê tông đúc sẵn m
3
6.000 8.259 137,65
- Thép xây dựng Tấn 13.000 12.546 96.5
- Hàng mộc m
3
100 142,6 142.6
Các chỉ tiêu Đơn
vị tính
Kế hoạch năm
2002
Thực hiện
năm 2002
So sánh
(%)
- Bê tông đúc sẵn m
3
10.000 11.500 115
- Thép xây dựng Tấn 15.000 12.700 84,7
- Hàng mộc m
3
100 217 217
Các chỉ tiêu Đơn vị tính Kế hoạch
năm 2003
Thực hiện
năm 2003
So sánh
(%)
- Bê tông đúc sẵn m
3
12.000 15.580 126,3
- Thép xâydựng Tấn 5.800 6.340 109.3
- Hàng mộc m
3
70 123 175.7
Sản lợng bê tông đúc sẵn sản xuất hàng năm luôn vợt kế hoạch đề ra.Cụ
thể năm 2001 vợt kế hoạch 37,65 %, năm 2002 vợt 11,5 % và năm 2003 đã v-
ợt kế hoạch 26,3 %. Hàng đồ mộc năm nào cũng thực hiên kế hoạch đề ra
trên 50% đặc biệt là năm 2002 vợt kế hoạch 117%. Tuy nhiên sản lợng thép
xây dựng trong 2 năm liên tiếp 2001,2002 không thực hiện đợc kế hoạch đề
ra và đã phải có sự điều chỉnh hợp lý cho năm 2003 và năm 2004.
11
Phân tích tình hình tài chính của công ty
bảng cân đối tàI sản
công ty bê tông thép ninh bình
Đơn vị tính: Triệu đồng
TàI sản Năm 2001 Năm 2002
Số cuối năm
Năm 2003
Số cuối năm
Số đầu năm Số cuối năm
A.Tài sản lu động 15.908,207 25.571,415 28.207,808 29.755,071
I.Vốn bằng tiền
297,642 1.013,135 728,290 94,434
+ Tiền mặt(111)
5,934 37,729 61,016 28,613
+ Tiền gửi NH (112)
291,707 975,395 667,273 65,280
II.Đầu t ngắn hạn
0 0
III. Các khoản phải thu
13.142,610 17.857,593 22.284,775 20.178,659
+ Phải thu của khách hàng 13.401,407 17.996,175 21.445,786 19.611,804
+ Trả trớc cho ngời bán 98,074 371,765 1.364,802 1.092,668
+ Phải thu khác 126,052 125,625 125,652 125,652
+Phải thu khó đòi 550,000 636,000 651,463 651,463
+Nộp thừa cho ngânsách 66,986
IV.ứng trớc và trả trớc
170,227 44,124 38,478 55,778
+Tạm ứng 58,,874 44,124 38,478 55,778
+Chi phí trả trớc 111,352
V. Hàng tồn kho
2.286,187 6.656,572 5.156,263 9.426,198
+ Nguyên vật liệu
1.287,898 2.113,821 1.989,558 1.344,628
+ Công cụ, dụng cụ
32,883 185,310 279,978 287,395
+ Thành phẩm tồn kho 965,405 4.357,439 2.886,726 7.794,175
VI. Chi phí sự nghiệp
11,540
+ Chi sự nghiệp năm trớc
11,540
B.Tài sản cố định 3.873,675 4.914,485 4.608,618 5.016,960
I. Tài sản cố định
3.979,675 4.850,587 4.544,720 4.940,960
+ TSCĐ hữu hình( N.giá) 16.112,958 17.150,469 17.824,455 18.838,141
+ Hao mòn TSCĐ 12.315,283 12.299,881 13.279,735 13.897,180
II. Đầu t dài hạn khác
76,000 63,989 63,989 76,000
+ Góp vốn liên doanh 17.898,375 17,989
+ Đầu t dài hạn khác 76,000 46,000 46,000 76,000
Tổng cộng tài
sản
19.781,883 30.485,900 32.816,426 34.772,032
nguồn vốn
Công ty bê tông thép ninh bình
12
Đơn vị tính: Triệu đồng
TàI sản Năm 2001 Năm 2002
Số cuối năm
30/6/2003
Số cuối 30/6
Số đầu năm Số cuối năm
A.Nợ phải trả 12.620,464 23.325,263 25.305,042 27.264,332
I. Nợ ngắn hạn
12.586.291 22.304,802 24.414,381 26.623,018
+ Vay ngắn hạn (311)
6.849,291 14.449,531 15.183,637 16.991,018
+ Phải trả ngời cung cấp
2.844,593 3.268,899 4.250,456 4.702,047
+ Ngời mua trả tiền trớc
193,124 161,382 324,641 85,152
+ Phải trả công nhân viên 659,508 745,355 726,746 559,689
+ Phải trả nội bộ 2.025,814 3.368,085 3.615,228 3.967,572
+ Phải trả, phảI nộp khác 14,185 261,558 313,670 318,191
II. Nợ dàI hạn
34,341 1.020,461 890,661 640,661
+Vay dàI hạn 34,341 1.020,461 890,661 640,661
+Nợ dàI hạn
B. Vốn chủ sở hữu 7.161,078 7.160,637 7.511,384 7.507,699
I. Vốn quỹ
7.046,078 7.160,637 7.551,384 7.507,699
+Vốn kinh doanh 5,427,943 5.457,943 5.885,537 5.885,537
- Vốn cố định 3.118,223 3.118,223 3.576,818 3.576,818
- Vốn lu động 2.309,719 2.309,719 2.309,719 2.309,719
+ Quỹ phát triển KD 945,194 1.163,105 1.074,808 1.074,808
+ Quỹ dự phòng tài
chính +mất việc làm
527,555 527,555 527,555 527,555
+ Quỹ khen thởng,Phúc lợi
145,385 42,033 23,483 19,799
II.Kinh phí sự nghiệp
115,000
+Kinh phí năm trớc
115,000
Tổng cộng nguồn vốn 19.781,883 30.485,900 32.186,426 34.772,032
Tính đến cuối năm 2003 thì tổng số vốn của Công ty là 34.772 triệu
đồng,trong đó vốn cố định là 3.576 triệu đồng, vốn lu động do ngân sách
cấp là 2.309 triệu đồng. Doanh thu tiêu thụ trong năm 2003 là 684.435 triệu
đồng. Nh vậy tình hình tài chính của Công ty rất khả quan, các nguồn vốn
tăng liên tục qua các năm, cụ thể là tổng số vốn năm 2002 tăng 7,65 % so
với năm 2001,năm 2003 tăng 5,96 % so với năm 2003. Tơng ứng với tổng
số vốn thì lợng vốn kinh doanh và vốn cố định cũng tăng nhanh qua các
13
năm, chỉ có lợng vốn cố định là không đổi qua 3 năm gần đây bởi đây là l-
ợng vốn do ngân sách cấp.
Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn cố định trong năm 2001 là 20,64 đến
năm 2002 tăng lên 19,50. Nh vậy chỉ số hiệu quả sử dụng vốn của công ty
rất ổn định, chỉ số này dao động trong khoảng từ 19 đến 21. Điều đó chứng
tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định của Công ty rất cao, 1 đồng vốn cố định
tạo ra đợc khoảng 20 đồng doanh thu.
Tình hình sử dụng vốn của Công ty ổn định, số vòng quay toàn bộ vốn
của Công ty năm 2001 là 2,11 đến năm 2002 tăng lên 21,25.
Khả năng thanh toán chung của Công ty năm 2002 là 1,16, nhìn
chung trong tình hình hiện nay doanh nghiệp khó có khả năng vay thêm vốn
để mở rộng thêm quy mô sản xuất do chỉ số khả năng thanh toán chung của
Công ty năm 2002 là 1,16 <2.
Xét chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ, năm 2001 chỉ số này có trị số 10,1%
năm 2002 giảm xuống còn 9,36 %còn năm 2003 đạt 4,6%, nh vậy mặc dù
tổng lợng vốn và doanh thu tiêu thụ qua các năm của Công ty tăng trong 3
năm gần đây nhng chỉ số mà Công ty quan tâm nhất, là muc tiêu kinh doanh
mà doanh nghiệp theo đuổi lại giảm dần, điều đó phần nào thể hiện mức độ
cạnh tranh trên thị trờng đối với các sản phẩm của Công ty ngày càng gay
gắt và Công ty đang dần chuyển sang chiến lợc giành giật thị phần dựa trên
lợi thế về giá cả và vị trí địa lý.
Tình hình sử dụng lao động trong Công ty
14
hút đầu t nớc ngoài vào Việt Nam. Trong khoảng thời gian này, thì nhu
cầu về vật liệu xây dựng rất lớn đặc biệt là thép xây dựng vì tại thời điểm
đó cả miền Bắc mới chỉ có nhà máy Gang thép Thái Nguyên, không
những thế mà thép phế liệu trôi nổi trên thị trờng không đợc sử dụng
đúng mục đích .
UBND tỉnh Ninh Bình đã cho đầu t xây dựng một dây chuyền luyện cán
thép công suất 3000 tấn/ năm và Xí nghiệp đợc đổi tên thành Công ty Bê
tông- Thép Ninh Bình theo quyết định số 499/ QĐ-UB ngày 10- 12- 1992
của UBND tỉnh Ninh Bình .
Trong khoảng thời gian này Công ty đã đợc trang bị thêm 2 lò luyện
thép, 2 cầu trục, máy cắt, máy hàn phục vụ cho phân xởng luyện thép, 2
máy cán thép, 1 cầu trục và hệ thống sàn nguội, máy cắt phục vụ cho phân
xởng luyện thép. Cũng trong năm 1992, Công ty đã tận dụng cơ sở hạ tầng
của đơn vị trực thuộc là Nhà máy xi măng Ninh Xuân mở rộng công ty ra
sát đờng quốc lộ I nhằm thuận tiện cho việc kinh doanh .
Năm 1994, cải tạo, đầu t chiều sâu, nâng công suất và chất lợng luyện
cán thép xây dựng từ 6 đến 25 , công suất 10.000 tấn / năm. Trong
khoảng thời gian này, Công ty đợc UBND tỉnh công nhận là Doanh nghiệp
loại 1 dựa vào những đóng góp của Công ty vào ngân sách của Tỉnh và
những bớc tiến vợt bậc trong doanh thu của công ty cũng nh thu nhập của
ngời lao động.
Năm 1999 tiếp tục đầu t ,cải tạo dây chuyền luyện cán thép, nâng công
suất cán thép từ 10.000 tấn / năm lên 15.000 tấn / năm .
Năm 2001, Công ty lắp đặt thêm dàn quay li tâm và bổ sung thêm 1
cầu trục,5 máy trộn bê tông tăng sản lợng bê tông lên 6.000 m
3
/ năm.
Cũng trong năm Công ty đợc nhà nớc phong tặng danh hiệu Anh hùng
lao động. Đây là phần thởng xứng đáng ghi nhận những đóng góp của
Công ty cho sự nghiệp phát triển Kinh tế Xã hội của toàn tỉnh cũng
nh của cả nớc.
5
Năm 2002 , Đầu t mở rộng dây chuyền sản xuất cột điện ly tâm, nâng
năng lực sản xuất lên 15.000 cột /năm. Tăng Giá trị sản xuất công nghiệp
lên 83.894 triệu đồng trong năm 2002.
Đầu năm 2003, đầu t chiều sâu cho dây chuyền luyện cán thép, nâng khả
năng tự động hoá đối với công nghệ luyện thép là đáng kể, một mặt nâng cao chất
lợng sản phẩm, mặt khác giảm nhẹ cờng độ vất vả ở những nơi quá vất vả.
Một số đặc đIểm kinh tế- kỹ thuật chủ yếu của công
ty.
. Tính chất và nhiệm vụ sản xuất của công ty.
Công ty sản xuất 2 loại sản phẩm chính là:
- Sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn : cột điện bê tông ly tâm,
cột điện chữ H, chữ K, pa- nen, ống cống, cọc móng Năng lực sản xuất
hiện nay của phân xởng Bê tông là từ 1200 -> 1500 m
3
bê tông / tháng
- Luyện cán thép xây dựng: Từ thép phế liệu đa vào lò luyện
theo phơng pháp luyện hồ quang, rót thép nóng chảy vào khuân tạo thành
phôi thép, phôi thép đạt tiêu chuẩn sẽ sản xuất ra thép CT 3 và CT5. Đa phôi
vào lò nung đến nhiệt độ khoảng 1300
o
C , đa vào máy cán để cán thành
thép trơn CT3 và thép gai CT5 từ 6 đến 25
Ngoài ra Công ty còn có đội xây dựng chuyên thi công những
công trình xây dựng dân dụng và phân xởng Mộc.
+ sản xuất không ngừng tăng trởng, bảo toàn và tăng trởng đợc
vốn
+ Đời sống công nhân luôn đợc cải thiện
+ Nghĩa vụ với nhà nớc phải đầy đủ
Đặc điểm lao động
Với tổng số cán bộ công nhân viên 630 ngời tính đến tháng 4 năm 2004
trong đó: 45 ngời có trình độ đại học, 9 ngời có trình độ cao đẳng , 41 ngời có
trình độ trung cấp.Thợ bậc 1 đến 3 là 353 ngời ,bậc4-5 là 236 ngời,bậc 6-7 là 45
ngời.Tuổi đời bình quân 34,7 tuổi. Cán bộ công nhân nữ là 155 ngời chiếm 24%.
6
Một đặc điểm dễ nhận thấy tại công ty là lao động nữ chiếm tỷ lệ rất thấp
khoảng 24% còn lại đa phần là lao động nam. Sơ dĩ có điều này do việc sản
xuất bê tông và cán thép đòi hỏi trình độ lao động khá phức tạp và cần nhiều
đến yếu tố sức khỏe. Chính vì vậy làm lao động nữ ở Công ty rất thấp và phần
lớn lao động nữ thuộc bộ phận sản xuất gián tiếp. Không những thế, cơ cấu lao
động của công ty còn diễn ra tình trạng " " Thầy nhiều hơn thợ", thật vậy
trong khi số lợng kỹ s chiếm tới 9 % tổng số lợng lao động trong công ty thì số l-
ợng trung cấp kỹ thuật- những lao động tay nghề bậc cao thì chỉ chiếm 7%.
Đây là 1 thực trạng tiêu cực mà ban giám đốc công ty đang cố gắng điều chỉnh
trong những năm tới.
Nhận thức đợc vai trò quan trọng của lực lợng lao động trong việc thực
hiện mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, Công ty đã xây dựng
một hệ thống tuyển dụng lao động chặt chẽ do ban lãnh đạo và những cán bộ
có kinh nghiệm trực tiếp kiểm tra thông qua hai phần thi lý thuyết và thực
hành. Với hệ thống đó đã đảm bảo chất lợng lao động tại Công ty ngay từ đầu
vào.
Đặc điểm về nguồn cung ứng nguyên vật liệu
1.3.1. Nguyên vật liệu(NVL) để sản xuất cấu kiện bê tông:
- Thép: Đa từ phân xởng cán thép sang,không phải mua .
- Xi măng : Dùng Xi măng Nghi Sơn, Bỉm Sơn khoảng
4600 tấn/ năm .
7
75%
25%
Nam
Nu
9%
7%
84%
KI SU
TRUNG CAP
KI THUAT
CONG
NHAN
- Cát vàng : Nhập từ Thanh Hoá 7.500 m
3
/ năm.
- Đá 1x2 : Mua từ công ty Hệ Dỡng khoảng 11.000 m
3
/ năm
.
Nguyên vật liệu thu mua rất ổn định thuận tiện,không phảI dự trữ
nhiều.
1.3.2. NVL để sản xuất Thép( Luyện, Cán thép )
- Thép phế: Là nguyên liệu chính để luyện thành phôi thép,
phôi thép là nguyên liệu để cán thành thép xây dựng
Mỗi tháng sử dụng từ 1200 đến 1700 tấn / tháng
Thu mua từ 2 nguồn
. Từ miền Nam: Vận chuyển bằng tàu, thuyền.
. Từ miền Trung,miền Bắc vận chuyển bằng ô tô .
Việc thu mua thép phế hiện nay tơng đối khó khăn, giá cả
không ổn định do giá thép trên thị trờng thế giới cũng nh trong nớc
biến đổi .
- Vật liệu phụ: Các chất trợ dung nh để luyện thép và khuân
để đúc phôi thép .
. Than Kíp-lê nhập từ Quảng Ninh bằng đờng sắt
khoảng 1800 tấn / năm .
. Amiăng khoảng 4 tấn / năm .
Đặc điểm về thị trờng tiêu thụ và sức cạnh tranh;
Do doanh nghiệp sản xuất 2 loại sản phẩm chủ yếu là cột điện bê
tông ly tâm và thép xây dựng là những sản phẩm có đặc tính kinh tế- kỹ
thuật khác nhau nên đặc đIểm về thị trờng tiêu thụ của chúng có nhiều điểm
khác nhau.
1.5.1. Thị trờng tiêu thụ cột điện bê tông ly tâm.
Đối với cột điện bê tông ly tâm thì thị trờng rộng lớn do chính sách
điện khí hoá nông thôn và miền núi nên sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ ở cả
trong tỉnh lẫn ngoài tỉnh,hầu hết là các tỉnh phía Bắc từ Quảng Ninh trở ra:
Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, TháI Bình, Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh,
8
Bắc Giang, HảI Phòng, Hoà Bình và còn cả 1 số tỉnh miền Trung nh
Thanh Hoá,Nghệ An
Hầu hết các sản phẩm cột điện bêtông lại đợc tiêu thụ ở xa: các
tỉnh miền núi chiếm từ 70-80 % sản lợng, còn các tỉnh đồng bằng chỉ
chiếm từ 20-30 % sản lợng đó là do các tỉnh miền núi cha có điện ở 1 số
vùng sâu, vùng xa nên đợc đầu t xây dựng đờng điện mới,do đó nhu cầu về
cột điện cao.
Tuy nhiên chính do đặc điểm thị trờng rộng lớn không tập
trung, lại chủ yếu ở các tỉnh miền núi đã gây khó khăn cho doanh nghiệp
trong việc vận chuyển hành hoá đến tận chân công trình cho khách hàng
bởi đội ngũ xe chuyên dùng còn thiếu, số lợng cần trục bê tông còn ít
không đủ đáp ứng nhu cầu hiện tại.
1.5.2. Thị trờng tiêu thụ thép.
Thép đợc sản xuất ra, một phần sản lợng đợc dùng trong nội bộ công
ty.Đó là phân xởng bê tông mua thép trực tiếp từ phân xởng luyện và cán
thép là cốt trong quá trình sản xuất bê tông.
Phần sản lợng còn lạI đợc tiêu thụ chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc và
Miền Trung nh Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Thanh Hoá,Nghệ An
Tuy nhiên thị trờng sản phẩm thép của công ty đang bị thu hẹp do sự
cạnh tranh quyết liệt của các doanh nghiệp sản xuất thép t nhân trong tỉnh
và các tỉnh lân cận, nh doanh nghiệp Thép đặc biệt(Ninh Bình)và nhất là
Công ty Thép Tam Điệp với số vốn đầu t hơn 600 tỷ đồng, đợc trang bị
công nghệ hiện đại của Italia.
Đặc điểm về tài chính.
Công ty Bê tông- Thép Ninh Bình là 1 doanh nghiệp nhà nớc do đó
vốn sản xuất kinh doanh của công ty có chủ sở hữu là nhà nớc. Do đó mặc
dù doanh nghiệp là đơn vị hạch toán kinh doanh nhng các chỉ số tài chính
căn bản của công ty lại chịu sự điều tiết của đơn vị chủ quản mà cụ thể là Sở
Xây dựng Ninh Bình.
9
Hàng năm nhà nớc cấp cho doanh nghiệp tổng lợng vốn khoảng trên
30 tỷ đồng( có thể biến động qua từng năm tuỳ thuộc vào tình hình thực
tiễn) trong đó vốn lu động khoảng 2,3 tỷ đồng, vốn kinh doanh gần 6 tỷ
đồng, vốn cố định là trên 3 tỷ đồng. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải bảo
toàn và phát triển lợng vốn trên, phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với
nhà nớc nh nộp ngân sách, nộp thuế đồng thời phải tuân thủ các chỉ số kinh
tế căn bản nh chỉ số hiệu quả sử dụng vốn phải đạt trên 15, số vòng quay
toàn bộ vốn phải đạt trên 2,1.
Phần II. Phân tích thực trạng về công
táctrả
lơng theo sản phẩm ở
công ty bê tông- thép Ninh bình
10
1. phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty
Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất
Các chỉ tiêu Đơn
vị tính
Kế hoạch năm
2001
Thực hiện
năm 2001
So sánh
(%)
- Bê tông đúc sẵn m
3
6.000 8.259 137,65
- Thép xây dựng Tấn 13.000 12.546 96.5
- Hàng mộc m
3
100 142,6 142.6
Các chỉ tiêu Đơn
vị tính
Kế hoạch năm
2002
Thực hiện
năm 2002
So sánh
(%)
- Bê tông đúc sẵn m
3
10.000 11.500 115
- Thép xây dựng Tấn 15.000 12.700 84,7
- Hàng mộc m
3
100 217 217
Các chỉ tiêu Đơn vị tính Kế hoạch
năm 2003
Thực hiện
năm 2003
So sánh
(%)
- Bê tông đúc sẵn m
3
12.000 15.580 126,3
- Thép xâydựng Tấn 5.800 6.340 109.3
- Hàng mộc m
3
70 123 175.7
Sản lợng bê tông đúc sẵn sản xuất hàng năm luôn vợt kế hoạch đề ra.Cụ
thể năm 2001 vợt kế hoạch 37,65 %, năm 2002 vợt 11,5 % và năm 2003 đã v-
ợt kế hoạch 26,3 %. Hàng đồ mộc năm nào cũng thực hiên kế hoạch đề ra
trên 50% đặc biệt là năm 2002 vợt kế hoạch 117%. Tuy nhiên sản lợng thép
xây dựng trong 2 năm liên tiếp 2001,2002 không thực hiện đợc kế hoạch đề
ra và đã phải có sự điều chỉnh hợp lý cho năm 2003 và năm 2004.
11
Phân tích tình hình tài chính của công ty
bảng cân đối tàI sản
công ty bê tông thép ninh bình
Đơn vị tính: Triệu đồng
TàI sản Năm 2001 Năm 2002
Số cuối năm
Năm 2003
Số cuối năm
Số đầu năm Số cuối năm
A.Tài sản lu động 15.908,207 25.571,415 28.207,808 29.755,071
I.Vốn bằng tiền
297,642 1.013,135 728,290 94,434
+ Tiền mặt(111)
5,934 37,729 61,016 28,613
+ Tiền gửi NH (112)
291,707 975,395 667,273 65,280
II.Đầu t ngắn hạn
0 0
III. Các khoản phải thu
13.142,610 17.857,593 22.284,775 20.178,659
+ Phải thu của khách hàng 13.401,407 17.996,175 21.445,786 19.611,804
+ Trả trớc cho ngời bán 98,074 371,765 1.364,802 1.092,668
+ Phải thu khác 126,052 125,625 125,652 125,652
+Phải thu khó đòi 550,000 636,000 651,463 651,463
+Nộp thừa cho ngânsách 66,986
IV.ứng trớc và trả trớc
170,227 44,124 38,478 55,778
+Tạm ứng 58,,874 44,124 38,478 55,778
+Chi phí trả trớc 111,352
V. Hàng tồn kho
2.286,187 6.656,572 5.156,263 9.426,198
+ Nguyên vật liệu
1.287,898 2.113,821 1.989,558 1.344,628
+ Công cụ, dụng cụ
32,883 185,310 279,978 287,395
+ Thành phẩm tồn kho 965,405 4.357,439 2.886,726 7.794,175
VI. Chi phí sự nghiệp
11,540
+ Chi sự nghiệp năm trớc
11,540
B.Tài sản cố định 3.873,675 4.914,485 4.608,618 5.016,960
I. Tài sản cố định
3.979,675 4.850,587 4.544,720 4.940,960
+ TSCĐ hữu hình( N.giá) 16.112,958 17.150,469 17.824,455 18.838,141
+ Hao mòn TSCĐ 12.315,283 12.299,881 13.279,735 13.897,180
II. Đầu t dài hạn khác
76,000 63,989 63,989 76,000
+ Góp vốn liên doanh 17.898,375 17,989
+ Đầu t dài hạn khác 76,000 46,000 46,000 76,000
Tổng cộng tài
sản
19.781,883 30.485,900 32.816,426 34.772,032
nguồn vốn
Công ty bê tông thép ninh bình
12
Đơn vị tính: Triệu đồng
TàI sản Năm 2001 Năm 2002
Số cuối năm
30/6/2003
Số cuối 30/6
Số đầu năm Số cuối năm
A.Nợ phải trả 12.620,464 23.325,263 25.305,042 27.264,332
I. Nợ ngắn hạn
12.586.291 22.304,802 24.414,381 26.623,018
+ Vay ngắn hạn (311)
6.849,291 14.449,531 15.183,637 16.991,018
+ Phải trả ngời cung cấp
2.844,593 3.268,899 4.250,456 4.702,047
+ Ngời mua trả tiền trớc
193,124 161,382 324,641 85,152
+ Phải trả công nhân viên 659,508 745,355 726,746 559,689
+ Phải trả nội bộ 2.025,814 3.368,085 3.615,228 3.967,572
+ Phải trả, phảI nộp khác 14,185 261,558 313,670 318,191
II. Nợ dàI hạn
34,341 1.020,461 890,661 640,661
+Vay dàI hạn 34,341 1.020,461 890,661 640,661
+Nợ dàI hạn
B. Vốn chủ sở hữu 7.161,078 7.160,637 7.511,384 7.507,699
I. Vốn quỹ
7.046,078 7.160,637 7.551,384 7.507,699
+Vốn kinh doanh 5,427,943 5.457,943 5.885,537 5.885,537
- Vốn cố định 3.118,223 3.118,223 3.576,818 3.576,818
- Vốn lu động 2.309,719 2.309,719 2.309,719 2.309,719
+ Quỹ phát triển KD 945,194 1.163,105 1.074,808 1.074,808
+ Quỹ dự phòng tài
chính +mất việc làm
527,555 527,555 527,555 527,555
+ Quỹ khen thởng,Phúc lợi
145,385 42,033 23,483 19,799
II.Kinh phí sự nghiệp
115,000
+Kinh phí năm trớc
115,000
Tổng cộng nguồn vốn 19.781,883 30.485,900 32.186,426 34.772,032
Tính đến cuối năm 2003 thì tổng số vốn của Công ty là 34.772 triệu
đồng,trong đó vốn cố định là 3.576 triệu đồng, vốn lu động do ngân sách
cấp là 2.309 triệu đồng. Doanh thu tiêu thụ trong năm 2003 là 684.435 triệu
đồng. Nh vậy tình hình tài chính của Công ty rất khả quan, các nguồn vốn
tăng liên tục qua các năm, cụ thể là tổng số vốn năm 2002 tăng 7,65 % so
với năm 2001,năm 2003 tăng 5,96 % so với năm 2003. Tơng ứng với tổng
số vốn thì lợng vốn kinh doanh và vốn cố định cũng tăng nhanh qua các
13
năm, chỉ có lợng vốn cố định là không đổi qua 3 năm gần đây bởi đây là l-
ợng vốn do ngân sách cấp.
Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn cố định trong năm 2001 là 20,64 đến
năm 2002 tăng lên 19,50. Nh vậy chỉ số hiệu quả sử dụng vốn của công ty
rất ổn định, chỉ số này dao động trong khoảng từ 19 đến 21. Điều đó chứng
tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định của Công ty rất cao, 1 đồng vốn cố định
tạo ra đợc khoảng 20 đồng doanh thu.
Tình hình sử dụng vốn của Công ty ổn định, số vòng quay toàn bộ vốn
của Công ty năm 2001 là 2,11 đến năm 2002 tăng lên 21,25.
Khả năng thanh toán chung của Công ty năm 2002 là 1,16, nhìn
chung trong tình hình hiện nay doanh nghiệp khó có khả năng vay thêm vốn
để mở rộng thêm quy mô sản xuất do chỉ số khả năng thanh toán chung của
Công ty năm 2002 là 1,16 <2.
Xét chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ, năm 2001 chỉ số này có trị số 10,1%
năm 2002 giảm xuống còn 9,36 %còn năm 2003 đạt 4,6%, nh vậy mặc dù
tổng lợng vốn và doanh thu tiêu thụ qua các năm của Công ty tăng trong 3
năm gần đây nhng chỉ số mà Công ty quan tâm nhất, là muc tiêu kinh doanh
mà doanh nghiệp theo đuổi lại giảm dần, điều đó phần nào thể hiện mức độ
cạnh tranh trên thị trờng đối với các sản phẩm của Công ty ngày càng gay
gắt và Công ty đang dần chuyển sang chiến lợc giành giật thị phần dựa trên
lợi thế về giá cả và vị trí địa lý.
Tình hình sử dụng lao động trong Công ty
14
Moi gioi BAT DONG SAN 01[1].ppt
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 5
VAI TRÒ, NHIỆM VỤ
VÀ YÊU CẦU CÔNG VIỆC
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 6
VAI TRÒ, NHIỆM VỤ VÀ CÁC YÊU CẦU CÔNG TÁC
Đại diện Môi giới.
Tổ trưởng Môi giới.
Trưởng phòng Môi giới.
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 7
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Vị trí: tác nghiệp Môi giới trực tiếp cho khách hàng.
-
Vai trò: làm cầu nối giữa Cty và khách hàng
-
Nhiệm vụ:
-
Tìm hiểu nhu cầu khách hàng
-
Tiếp cận khách hàng và chào hàng
-
Nhận đơn đặt hàng và giúp khách hàng làm các thủ tục hành
chính
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 8
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Nhiệm vụ:
-
Theo dõi quá trình giao nhận hàng
-
Hỗ trợ khách hàng
-
Thúc đẩy khách hàng mua thêm và nhắc khách hàng
thanh tóan khi sắp đến hạn.
-
Thu thập thông tin và đánh giá tình hình kinh doanh trong
khu vực và hòan thành các thủ tục báo cáo bán hàng.
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 9
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Báo cáo:
-
Báo cáo trực tiếp cho Tổ trưởng Bán hàng.
-
Báo cáo định kỳ theo biểu mẫu quy định.
-
Nội dung báo cáo bao gồm những thông tin chính về
doanh số , sản lượng hàng bán, tình hình khách hàng,
tình hình thị trường.
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 10
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Yêu cầu:
-
Kỹ năng:
-
Kỹ năng thăm dò
-
Kỹ năng nói câu lợi ích
-
Kỹ năng thuyết phục
-
Kỹ năng xữ lý phản đối
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 11
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Yêu cầu:
-
Kỹ năng:
-
Kỹ năng trình bày
-
Kỹ năng đàm phán
-
Kỹ năng làm việc theo nhóm
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 12
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Yêu cầu:
-
Kiến thức:
-
Kiến thức về Công ty
-
Kiến thức về sản phẩm
-
Kiến thức về khách hàng
-
Kiến thức về thị trường
-
Kiến thức về đối thủ cạnh tranh.
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 13
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Yêu cầu:
-
Trình độ văn hóa:
-
Tối thiểu phải tốt nghiệp PTTH
-
Sử dụng được vi tính văn phòng
-
Ngọai ngữ: đọc được 1 số từ thông dụng
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 14
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Yêu cầu:
-
Tính cách:
-
Quan hệ hài hòa với mọi người
-
Truc thực
-
Trung thành với tổ chức
-
Năng động và sáng tạo
VAI TRÒ, NHIỆM VỤ
VÀ YÊU CẦU CÔNG VIỆC
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 6
VAI TRÒ, NHIỆM VỤ VÀ CÁC YÊU CẦU CÔNG TÁC
Đại diện Môi giới.
Tổ trưởng Môi giới.
Trưởng phòng Môi giới.
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 7
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Vị trí: tác nghiệp Môi giới trực tiếp cho khách hàng.
-
Vai trò: làm cầu nối giữa Cty và khách hàng
-
Nhiệm vụ:
-
Tìm hiểu nhu cầu khách hàng
-
Tiếp cận khách hàng và chào hàng
-
Nhận đơn đặt hàng và giúp khách hàng làm các thủ tục hành
chính
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 8
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Nhiệm vụ:
-
Theo dõi quá trình giao nhận hàng
-
Hỗ trợ khách hàng
-
Thúc đẩy khách hàng mua thêm và nhắc khách hàng
thanh tóan khi sắp đến hạn.
-
Thu thập thông tin và đánh giá tình hình kinh doanh trong
khu vực và hòan thành các thủ tục báo cáo bán hàng.
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 9
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Báo cáo:
-
Báo cáo trực tiếp cho Tổ trưởng Bán hàng.
-
Báo cáo định kỳ theo biểu mẫu quy định.
-
Nội dung báo cáo bao gồm những thông tin chính về
doanh số , sản lượng hàng bán, tình hình khách hàng,
tình hình thị trường.
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 10
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Yêu cầu:
-
Kỹ năng:
-
Kỹ năng thăm dò
-
Kỹ năng nói câu lợi ích
-
Kỹ năng thuyết phục
-
Kỹ năng xữ lý phản đối
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 11
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Yêu cầu:
-
Kỹ năng:
-
Kỹ năng trình bày
-
Kỹ năng đàm phán
-
Kỹ năng làm việc theo nhóm
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 12
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Yêu cầu:
-
Kiến thức:
-
Kiến thức về Công ty
-
Kiến thức về sản phẩm
-
Kiến thức về khách hàng
-
Kiến thức về thị trường
-
Kiến thức về đối thủ cạnh tranh.
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 13
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Yêu cầu:
-
Trình độ văn hóa:
-
Tối thiểu phải tốt nghiệp PTTH
-
Sử dụng được vi tính văn phòng
-
Ngọai ngữ: đọc được 1 số từ thông dụng
Biên soạn: Ths, Lê Bá Chí Nhân 14
ĐẠI DIỆN MÔI GIỚI (Broker Representative)
-
Yêu cầu:
-
Tính cách:
-
Quan hệ hài hòa với mọi người
-
Truc thực
-
Trung thành với tổ chức
-
Năng động và sáng tạo
Giải pháp tăng cường huy động vốn tại chi nhánh Hà Thành – Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam.DOC
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
kinh tế. Ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền tập hợp và
phân chia nguồn vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả.
1.1.1.1.3 Ngân hàng thương mại là cầu nối thị trường với các doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, sự phát triển của hoạt động tín dụng Ngân hàng
đã làm biến đổi hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp bằng các dây chuyền sản
xuất hiện đại cho năng suất cao, thực hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiên
tiến trên thế giới. Điều này không thể thực hiện khi chỉ bằng số vốn tự có rất ít
của các doanh nghiệp mà chỉ có thể thực hiện bằng cách vay vốn từ Ngân hàng.
Bên cạnh đó tín dụng Ngân hàng còn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong
việc tăng cường nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp. Hơn nữa, một vấn đề
luôn là mối lo và cũng đòi hỏi sự có mặt của tín dụng Ngân hàng đối với doanh
nghiệp là cần một ngân quỹ để đào tạo đội ngũ cán bộ lao động phù hợp với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật khi điều kiện nước ta vẫn thiếu những chuyên gia
đầu ngành, những cán bộ có năng lực và công nhân lành nghề.
1.1.1.1.4 Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài
chính quốc tế
Nhận thức được tầm quan trọng của sự hội nhập kinh tế quốc gia với nền
kinh tế thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát
triển nhanh và bền vững. Một trong những điều kiện quan trọng thúc đẩy sự hội
nhập nền kinh tế quốc tế chính là nền tài chính quốc gia. Tài chính quốc gia là cầu
nối với tài chính quốc tế thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong
các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp
vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt trong hoạt động thanh toán quốc tế,
buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các Ngân hàng nhà nước của Ngân hàng
thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đấy hoạt động thanh
toán xuất nhập khẩu và thông qua đó các Ngân hàng thương mại đã thực hiện
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
được vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài
chính quốc tế.
1.1.1.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.2.1 Chức năng tạo tiền cho nền kinh tế
Được thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng và đầu tư của các ngân
hang thương mại trong mối quan hệ với ngân hang nhà nước.
1.1.1.2.2 Chức năng trung gian tài chính
Sử dụng đồng vốn tạm thời nhàn rỗi một cách hiệu quả và tài trợ vốn cho các
hoạt động khác nhau trong nền kinh tế hay nói cách khác ngân hang thương mại
làm cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Đây là chức năng quan trọng
nhất, nó quyết định sự duy trì và phát triển của ngân hang và là cơ sở để thực hiện
các chức năng khác.
1.1.1.2.3 Chức năng thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Ngân hàng đứng ra thanh toán hộ khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài
khoản này sang tài khoản khác theo yêu cầu của họ. Khi nền kinh tế càng phát
triển thì chức năng này càng được mở rộng.
1.1.2 Những hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, nguồn vốn hoạt động
là rất lớn song chủ yếu là được bổ sung từ bên ngoài và ngân hang có thể thực
hiện nghiệp vụ này với tất cả các khu vực của nền kinh tế. Nguồn vốn được huy
động dưới các dạng như:
* Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các giấy tờ có giá khác
* Vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
* Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn
* Các hình thức huy động khác theo quy định của NHNN
1.1.2.2 Hoạt động tín dụng
Ngân hang cấp tín dụng cho các tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho vay,
chiết khấu thương phiếu, các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh và các hình thức khác
theo quy định của NHNN
1.1.2.3 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
* Dịch vụ thanh toán: cung cấp các phương tiện thanh toán, thực hiện thu chi
hộ,…
* Mở tài khoản: Ngân hang thực hiện mở tài khoản cho khách hàng để giao
dịch
* Dịch vụ ngân quỹ: thực hiện thu và phát tiền mặt cho khách hang
1.1.2.4 Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chủ yếu trên, ngân hang thương mại còn tham gia vào
nhiều dịch vụ khác như: Cung ứng các dịch vụ bảo hiểm, thực hiện dịch vụ ủy
thác, dịch vụ bảo quản an toàn các tài sản có giá, tư vấn cho khách hàng trong
lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, dịch vụ kinh doanh ngoại hối… nhằm hỗ trợ và
mở rộng hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại trong thị trường tài chính.
1.2 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Vốn của ngân hàng thương mại
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại có những đặc thù riêng
có mà các doanh nghiệp trong các ngành khác không có.Vốn vừa là phương tiện
kinh doanh, đồng thời cũng là đối tượng kinh doanh của Ngân hàng thương
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
mại.Vốn của ngân hàng được thể hiện dưới các dạng: vốn chủ sở hữu và nợ.
Trong đó vốn chủ sở hữu chiếm một tỉ lệ rất nhỏ.
1.2.1.1 Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngân hàng tạo
lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng thông qua nguồn vốn bổ sung trong
quá trình hoạt động hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Vốn chủ sở hữu bao
gồm các thành phần:
* Vốn góp của chủ sở hữu để thành lập hay mở rộng hoạt động của doanh
nghiệp
* Nguồn từ lợi nhuận: trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, ngân
hàng có xu hướng tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn
đầu tư.
* Các quỹ được hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân
hàng theo cơ chế tài chính hoặc quyết định của chủ sở hữu vốn, bao gồm quỹ dự
phòng tổn thất, quỹ đầu tư phát triển, quỹ bảo toàn vốn, quỹ thặng dư,…
* Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Nguồn vốn chủ sở hữu thường chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn
của ngân hàng( khoảng dưới 10%), như chúng ta đã biết một ngân hàng muốn
thành lập phải có đủ vốn ban đầu nhất định do ngân hàng nhà nước quy định.
Nguồn vốn này thực hiện chức năng thành lập, bảo vệ và điều chỉnh đối với hoạt
động của ngân hàng. Theo quy định của ngân hàng trung ương thì vốn chủ sở hữu
của ngân hàng lớn hơn hoặc bằng 8% trên tổng tài sản rủi ro quy đổi, do vậy chức
năng chủ yếu của khối lượng giới hạn vốn chủ sử hữu được xem như tài sản bảo
vệ cho khách hàng gửi tiền. Chức năng bảo vệ không chỉ được xem như tài sản
bảo vệc cho khách hàng gửi tiền khi ngân hàng vỡ nợ mà còn duy trì khả năng trả
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nợ bằng cách cung cấp một khoản tài sản có dự trữ giúp ngân hàng khỏi bị đe dọa
bởi sự thua lỗ. Ngoài ra, dựa trên mức vốn chủ sở hữu của ngân hàng, các cơ quan
quản lý sẽ xác định và điều chỉnh hoạt động cho ngân hàng.
1.2.1.2 Vốn nợ
Đây là nguồn vốn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng vốn của ngân hàng. Nó
là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các
cá nhân trong xã hội thông qua các nghiệp vụ của ngân hàng. Bản chất vốn nợ là
tài sản thuộc chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ óc quyền sử dụng mà không có
quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn
(nếu là tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn (nếu là tiền
gửi không kỳ hạn).
Vốn nợ có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Vốn nợ được ngân hàng thương mại huy động dưới các hình thức như:
* Nhận tiền gửi bao gồm tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết
kiệm
* Nguồn vốn đi vay như vay NHNN, vay các tổ chức tín dụng khác, vay
trên thị trường vốn
* Nguồn vay nợ khác gồm nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán và các
nguồn khác
Nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau trong
đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi là rất quan trọng và chiếm tỉ trọng lớn nhất,
khoảng từ 70% - 80% tổng nguồn vốn và nó có tính biến động. Đặc biệt tiền gửi
ngắn hạn và tiền gửi không kỳ hạn thường nhạy cảm với các biến động về lãi
suất, tỉ giá, thu nhập, chu kỳ chi tiêu và nhiều nhân tố khác. Do vậy ngân hàng
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
cần nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu và phân tích nguồn hình thành vốn này, dự đoán
trước tính hình cung cầu vốn để có đối sách phù hợp.
1.2.2 Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
Huy động vốn là điều kiện cần đối với hoạt động của một ngân hàng, đảm
bảo sự tồn tại của ngân hàng và thực hiện chức năng trung gian tài chính. Vốn
huy động quyết định quy mô hoạt động và quy mô tín dụng của ngân hàng. Để
tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động, đòi hỏi ngân hàng phải có uy tín
trên thị trường. Do vậy vốn huy động quyết định đến khả năng thanh toán và đảm
bảo uy tín của các ngân hàng trên thị trường trong nền kinh tế. Uy tín được thể
hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng, khả năng thanh toán
của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn, đồng thời tạo
cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng với quy mô lớn, tiến hành các hoạt động
cạnh tranh, đảm bảo uy tín, nâng cao danh thế của ngân hàng trên thị trường.
1.2.2.1 Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng và chiếm tỉ trọng
lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng thương mại. Trong môi trường cạnh
tranh, để tăng nguồn tiền này cả về số lượng và chất lượng, các ngân hàng đã thực
hiện nhiều hình thức huy động khác nhau
1.2.2.1.1 Tiền gửi không kỳ hạn
Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà không có thỏa thuận trước
về thời gian rút tiền. Nhìn chung lãi suất của khoản tiền này là rất thấp hoặc bằng
không bởi tiền gửi không kỳ hạn có tính biến động, khách hàng có thể rút ra bất
cứ lúc nào do vậy ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này, và ngân hàng
phải dự trữ một số tiền để đảm bảo có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu
cầu. Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm 2 loại:
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Tiền gửi thanh toán: Đây là tiền của khách hàng gửi vào ngân hàng để nhờ
ngân hàng giữ và thanh toán hộ về tiền mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh
toán khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng. Đứng
trên góc độ là khách hàng thì đây là tiền khách hàng gửi vào ngân hàng để sử
dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt: Séc, thẻ thanh toán, ủy nhiệm
chi…Khách hàng có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông qua công cụ thanh toán.
Đứng trên góc độ ngân hàng thì ngân hàng coi đây là một khoản tiền mà họ phải
có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng bất kỳ lúc nào, tuy nhiên ngân hàng cần
tận dụng loại tiền gửi này làm vốn kinh doanh của mình bởi trong quá trình lưu
chuyển vốn của ngân hàng do có sự chênh lêch giữa các khoản tiền gửi vào và rút
ra giữa các tài khoản của khách hàng.
Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy: Đây là loại tiền gửi khách hàng gửi vào
ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn về tài sản. Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy
cũng là tài sản của người ký thác, họ có quyền rút bất kỳ lúc nào, ngân hàng luôn
phải đảm bảo có thể thanh toán, lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thuần túy cao hơn
lãi suất tiền gửi thanh toán.Mục đích của người gửi tiền là bảo đảm an toàn, khách
hang không xác định được thời gian nhàn rỗi đối với số tiền của họ và không có
nhu cầu sử dụng tiền gửi thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng.
1.2.2.1.2. Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền gửi khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng có sự thỏa thuận
trước về thời hạn rút tiền. Đây là loại tiền gửi có tính ổn định vì ngân hàng xác
định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho họ đúng thời hạn.
Do vậy ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền này vào mục đích kinh doanh
trong thời gian ký kết. Đối với tiền gửi có kỳ hạn thì thời hạn gửi có rất nhiều
loại, từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng,… Điều này tạo cho khách hàng có nhiều kỳ hạn
gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền họ có. Loại tiền gửi này thường
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
được trả lãi suất cao hơn so với lãi suất của loại tiền gửi không kỳ hạn bởi ngân
hàng có quyền sử dụng lượng tiền này trong thời gian nhất định.
1.2.2.1.3 Tiền gửi tiết kiệm
Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm hưởng lãi suất. Khi
khách hàng mang tiền đến gửi sẽ được ngân hàng cấp cho một cuốn sổ và mỗi lần
đến giao dịch ở ngân hàng thì khách hàng phải mang theo nó.
Tài khoản tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập cá nhân của người lao
động mà họ chưa đưa vào tiêu dùng, đây là một dạng đặc biệt để tích lũy tiền tệ
thay cho hình thức cất trữ vàng, hàng hóa. Có 3 loại tiền gửi tiết kiệm:
* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút
ra bất cứ lúc nào nhưng không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả
cho người khác. Số dư tiền gửi này không lớn nhưng nó ít biến động do vậy đối
với loại tiền gửi này thì các ngân hàng thường trả lãi suất cao hơn tiền gửi thanh
toán.
* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận trước về thời
gian gửi và thời hạn rút tiền, loại này có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi
không kỳ hạn. Đây là loại hình tiết kiệm khá quen thuộc ở Việt Nam, các Ngân
hàng thường huy động tiết kiệm với thời hạn từ ba tháng đến một năm.
* Tiết kiệm dài hạn: Đây là loại tiền gửi có tính ổn định cao bởi thời gian gửi
tiền từ một năm trở lên do vậy ngân hàng có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này
cho mục đích vốn dài hạn. Lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm dài hạn này cao
hơn so với 2 loại trên.
1.2.2.2 Huy động vốn bằng phát hành các giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá dùng để huy động vốn trong ngân hàng thực chất là các giấy
nợ mà ngân hàng trao cho những người cho ngân hàng vay tiền xác nhận quyền
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đòi nợ của khách hàng đối với ngân hàng ở một mức lãi suất và ngày hoàn trả
nhất định.
Việc phát hành giấy tờ có giá nhằm hình thành nguồn vốn sử dụng có tính ổn
định cao, và giải quyết những khoản vốn thiếu hụt có tính tình thế do khả năng
thu hút bằng nguồn tiết kiệm hạn chế.
1.2.2.2.1 Phát hành trái phiếu
Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi của ngân hanf phat hành
đối với người chủ sở hữu trái phiếu. Mục đích của ngân hàng khi phát hành tài
phiếu là huy động vốn trung và dài hạn. Các ngân hàng thương mại chịu sự quản
lý của Ngân hàn Trung Ương, các cơ quan quản lý trên thị trường chứng khoán
khi phát hành trái phiếu.
1.2.2.2.2 Phát hành kỳ phiếu
Kỳ phiếu là loại giấy tờ có giá ngắn hạn ( < 1 năm). Nó được sử dụng cho
mục đích vay vốn ngắn hạn của ngân hàng.
1.2.2.2.3 Phát hành chứng chỉ tiền gửi
Là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân hàng, người sở hữu
giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ vốn khi đến hạn và sau
khi phát hành thì chứng chỉ sẽ được lưu thông trên thị trường tiền tệ.
1.2.2.2.4 Phát hành các giấy tờ có giá khác
Hình thức phát hành phiếu nợ để thu hút vốn ở nước ngoài mà điển hình là
phát hành EURO DOLLAR. Đặc điểm là chỉ huy động vốn bằng đô la và trả vốn
gốc và lãi cũng bằng đô la. Ngân hàng thường sử dụng loại này để huy động vốn
ngắn hạn. Quyền phát hành ở một số nước trong đó có Việt Nam được giới hạn ở
một số ngân hàng đặc biệt như Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Xuất Nhập
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Khẩu được phép phát hành phiếu nợ này trong và nước ngoài còn với các ngân
hàng khác chỉ được phát hành ở nước ngoài. Huy động vốn dưới hình thức này
các Ngân hàng thương mại phải trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi do vậy khi
phát hành các giấy tờ có giá thì các Ngân hàng thương mại phải căn cứ vào đầu ra
để quyết định đến khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn cũng như
phương pháp huy động phù hợp.
1.2.2.3 Vay Ngân hàng nhà nước hoặc tổ chức tín dụng khác
Thông qua quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng thương mại với Ngân hàng
Trung ương hoặc giữa các Ngân hàng thương mại với nhau hay với các tổ chức
tín dụng khác mà nguồn vốn vay này có được. Vốn đi vay là nguồn vốn mà ngân
hàng chịu chi phí cao hơn vốn huy động, do vậy chỉ trong trường hợp ngân hàng
thiếu vốn khả dụng trong thời gian ngắn nào đó thì ngân hàng mới tìm đến các
Ngân hàng thương mại khác để thỏa mãn nhu cầu vốn khả dụng. Trong trường
hợp nếu không thỏa mãn được nhu cầu đó từ phía các Ngân hàng thương mại
khác thì phương án tiếp theo sẽ llaf đi vay của Ngân hàng Trung Ương. Tùy vào
mục đích sử dụng và hình thức vay mà các Ngân hàng thương mại có thể vay
Ngân hàng Trung Ương các loại vốn như vốn vay ngắn hạn hoặc vốn vay để
thanh toán giữa các Ngân hàng nhằm bù đắp những thiếu hụt tạm thời trong thanh
toán hoặc các Ngân hàng thương mại mang các giấy tờ có giá đến Ngân hàng
Trung Ương xin tái chiết khấu (tái cấp vốn).
Ngân hàng Trung Ương thông qua nhu cầu vay vốn của Ngân hàng thương
mại với Ngân hàng Trung Ương nhằm mục đích phát hành thêm tiền theo kế
hoạch, bổ sung khối lượng vốn khả dụng cho Ngân hàng thương mại một cách
thường xuyên và là cứu cánh cho vay cuối cùng nhằm cứu nguy cho các Ngân
hàng thương mại khi cần thiết, nếu sự đổ vỡ của các Ngân hàng thương mại có
thể gây ảnh hưởng đến sự ăn toàn của hệ thống Ngân hàng.
14
kinh tế. Ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền tập hợp và
phân chia nguồn vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả.
1.1.1.1.3 Ngân hàng thương mại là cầu nối thị trường với các doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, sự phát triển của hoạt động tín dụng Ngân hàng
đã làm biến đổi hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp bằng các dây chuyền sản
xuất hiện đại cho năng suất cao, thực hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiên
tiến trên thế giới. Điều này không thể thực hiện khi chỉ bằng số vốn tự có rất ít
của các doanh nghiệp mà chỉ có thể thực hiện bằng cách vay vốn từ Ngân hàng.
Bên cạnh đó tín dụng Ngân hàng còn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong
việc tăng cường nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp. Hơn nữa, một vấn đề
luôn là mối lo và cũng đòi hỏi sự có mặt của tín dụng Ngân hàng đối với doanh
nghiệp là cần một ngân quỹ để đào tạo đội ngũ cán bộ lao động phù hợp với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật khi điều kiện nước ta vẫn thiếu những chuyên gia
đầu ngành, những cán bộ có năng lực và công nhân lành nghề.
1.1.1.1.4 Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài
chính quốc tế
Nhận thức được tầm quan trọng của sự hội nhập kinh tế quốc gia với nền
kinh tế thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát
triển nhanh và bền vững. Một trong những điều kiện quan trọng thúc đẩy sự hội
nhập nền kinh tế quốc tế chính là nền tài chính quốc gia. Tài chính quốc gia là cầu
nối với tài chính quốc tế thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong
các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp
vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt trong hoạt động thanh toán quốc tế,
buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các Ngân hàng nhà nước của Ngân hàng
thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đấy hoạt động thanh
toán xuất nhập khẩu và thông qua đó các Ngân hàng thương mại đã thực hiện
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
được vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài
chính quốc tế.
1.1.1.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.2.1 Chức năng tạo tiền cho nền kinh tế
Được thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng và đầu tư của các ngân
hang thương mại trong mối quan hệ với ngân hang nhà nước.
1.1.1.2.2 Chức năng trung gian tài chính
Sử dụng đồng vốn tạm thời nhàn rỗi một cách hiệu quả và tài trợ vốn cho các
hoạt động khác nhau trong nền kinh tế hay nói cách khác ngân hang thương mại
làm cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Đây là chức năng quan trọng
nhất, nó quyết định sự duy trì và phát triển của ngân hang và là cơ sở để thực hiện
các chức năng khác.
1.1.1.2.3 Chức năng thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Ngân hàng đứng ra thanh toán hộ khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài
khoản này sang tài khoản khác theo yêu cầu của họ. Khi nền kinh tế càng phát
triển thì chức năng này càng được mở rộng.
1.1.2 Những hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, nguồn vốn hoạt động
là rất lớn song chủ yếu là được bổ sung từ bên ngoài và ngân hang có thể thực
hiện nghiệp vụ này với tất cả các khu vực của nền kinh tế. Nguồn vốn được huy
động dưới các dạng như:
* Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các giấy tờ có giá khác
* Vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
* Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn
* Các hình thức huy động khác theo quy định của NHNN
1.1.2.2 Hoạt động tín dụng
Ngân hang cấp tín dụng cho các tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho vay,
chiết khấu thương phiếu, các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh và các hình thức khác
theo quy định của NHNN
1.1.2.3 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
* Dịch vụ thanh toán: cung cấp các phương tiện thanh toán, thực hiện thu chi
hộ,…
* Mở tài khoản: Ngân hang thực hiện mở tài khoản cho khách hàng để giao
dịch
* Dịch vụ ngân quỹ: thực hiện thu và phát tiền mặt cho khách hang
1.1.2.4 Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chủ yếu trên, ngân hang thương mại còn tham gia vào
nhiều dịch vụ khác như: Cung ứng các dịch vụ bảo hiểm, thực hiện dịch vụ ủy
thác, dịch vụ bảo quản an toàn các tài sản có giá, tư vấn cho khách hàng trong
lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, dịch vụ kinh doanh ngoại hối… nhằm hỗ trợ và
mở rộng hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại trong thị trường tài chính.
1.2 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Vốn của ngân hàng thương mại
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại có những đặc thù riêng
có mà các doanh nghiệp trong các ngành khác không có.Vốn vừa là phương tiện
kinh doanh, đồng thời cũng là đối tượng kinh doanh của Ngân hàng thương
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
mại.Vốn của ngân hàng được thể hiện dưới các dạng: vốn chủ sở hữu và nợ.
Trong đó vốn chủ sở hữu chiếm một tỉ lệ rất nhỏ.
1.2.1.1 Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngân hàng tạo
lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng thông qua nguồn vốn bổ sung trong
quá trình hoạt động hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Vốn chủ sở hữu bao
gồm các thành phần:
* Vốn góp của chủ sở hữu để thành lập hay mở rộng hoạt động của doanh
nghiệp
* Nguồn từ lợi nhuận: trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, ngân
hàng có xu hướng tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn
đầu tư.
* Các quỹ được hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân
hàng theo cơ chế tài chính hoặc quyết định của chủ sở hữu vốn, bao gồm quỹ dự
phòng tổn thất, quỹ đầu tư phát triển, quỹ bảo toàn vốn, quỹ thặng dư,…
* Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Nguồn vốn chủ sở hữu thường chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn
của ngân hàng( khoảng dưới 10%), như chúng ta đã biết một ngân hàng muốn
thành lập phải có đủ vốn ban đầu nhất định do ngân hàng nhà nước quy định.
Nguồn vốn này thực hiện chức năng thành lập, bảo vệ và điều chỉnh đối với hoạt
động của ngân hàng. Theo quy định của ngân hàng trung ương thì vốn chủ sở hữu
của ngân hàng lớn hơn hoặc bằng 8% trên tổng tài sản rủi ro quy đổi, do vậy chức
năng chủ yếu của khối lượng giới hạn vốn chủ sử hữu được xem như tài sản bảo
vệ cho khách hàng gửi tiền. Chức năng bảo vệ không chỉ được xem như tài sản
bảo vệc cho khách hàng gửi tiền khi ngân hàng vỡ nợ mà còn duy trì khả năng trả
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nợ bằng cách cung cấp một khoản tài sản có dự trữ giúp ngân hàng khỏi bị đe dọa
bởi sự thua lỗ. Ngoài ra, dựa trên mức vốn chủ sở hữu của ngân hàng, các cơ quan
quản lý sẽ xác định và điều chỉnh hoạt động cho ngân hàng.
1.2.1.2 Vốn nợ
Đây là nguồn vốn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng vốn của ngân hàng. Nó
là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các
cá nhân trong xã hội thông qua các nghiệp vụ của ngân hàng. Bản chất vốn nợ là
tài sản thuộc chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ óc quyền sử dụng mà không có
quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn
(nếu là tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn (nếu là tiền
gửi không kỳ hạn).
Vốn nợ có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Vốn nợ được ngân hàng thương mại huy động dưới các hình thức như:
* Nhận tiền gửi bao gồm tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết
kiệm
* Nguồn vốn đi vay như vay NHNN, vay các tổ chức tín dụng khác, vay
trên thị trường vốn
* Nguồn vay nợ khác gồm nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán và các
nguồn khác
Nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau trong
đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi là rất quan trọng và chiếm tỉ trọng lớn nhất,
khoảng từ 70% - 80% tổng nguồn vốn và nó có tính biến động. Đặc biệt tiền gửi
ngắn hạn và tiền gửi không kỳ hạn thường nhạy cảm với các biến động về lãi
suất, tỉ giá, thu nhập, chu kỳ chi tiêu và nhiều nhân tố khác. Do vậy ngân hàng
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
cần nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu và phân tích nguồn hình thành vốn này, dự đoán
trước tính hình cung cầu vốn để có đối sách phù hợp.
1.2.2 Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
Huy động vốn là điều kiện cần đối với hoạt động của một ngân hàng, đảm
bảo sự tồn tại của ngân hàng và thực hiện chức năng trung gian tài chính. Vốn
huy động quyết định quy mô hoạt động và quy mô tín dụng của ngân hàng. Để
tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động, đòi hỏi ngân hàng phải có uy tín
trên thị trường. Do vậy vốn huy động quyết định đến khả năng thanh toán và đảm
bảo uy tín của các ngân hàng trên thị trường trong nền kinh tế. Uy tín được thể
hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng, khả năng thanh toán
của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn, đồng thời tạo
cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng với quy mô lớn, tiến hành các hoạt động
cạnh tranh, đảm bảo uy tín, nâng cao danh thế của ngân hàng trên thị trường.
1.2.2.1 Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng và chiếm tỉ trọng
lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng thương mại. Trong môi trường cạnh
tranh, để tăng nguồn tiền này cả về số lượng và chất lượng, các ngân hàng đã thực
hiện nhiều hình thức huy động khác nhau
1.2.2.1.1 Tiền gửi không kỳ hạn
Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà không có thỏa thuận trước
về thời gian rút tiền. Nhìn chung lãi suất của khoản tiền này là rất thấp hoặc bằng
không bởi tiền gửi không kỳ hạn có tính biến động, khách hàng có thể rút ra bất
cứ lúc nào do vậy ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này, và ngân hàng
phải dự trữ một số tiền để đảm bảo có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu
cầu. Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm 2 loại:
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Tiền gửi thanh toán: Đây là tiền của khách hàng gửi vào ngân hàng để nhờ
ngân hàng giữ và thanh toán hộ về tiền mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh
toán khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng. Đứng
trên góc độ là khách hàng thì đây là tiền khách hàng gửi vào ngân hàng để sử
dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt: Séc, thẻ thanh toán, ủy nhiệm
chi…Khách hàng có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông qua công cụ thanh toán.
Đứng trên góc độ ngân hàng thì ngân hàng coi đây là một khoản tiền mà họ phải
có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng bất kỳ lúc nào, tuy nhiên ngân hàng cần
tận dụng loại tiền gửi này làm vốn kinh doanh của mình bởi trong quá trình lưu
chuyển vốn của ngân hàng do có sự chênh lêch giữa các khoản tiền gửi vào và rút
ra giữa các tài khoản của khách hàng.
Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy: Đây là loại tiền gửi khách hàng gửi vào
ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn về tài sản. Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy
cũng là tài sản của người ký thác, họ có quyền rút bất kỳ lúc nào, ngân hàng luôn
phải đảm bảo có thể thanh toán, lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thuần túy cao hơn
lãi suất tiền gửi thanh toán.Mục đích của người gửi tiền là bảo đảm an toàn, khách
hang không xác định được thời gian nhàn rỗi đối với số tiền của họ và không có
nhu cầu sử dụng tiền gửi thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng.
1.2.2.1.2. Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền gửi khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng có sự thỏa thuận
trước về thời hạn rút tiền. Đây là loại tiền gửi có tính ổn định vì ngân hàng xác
định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho họ đúng thời hạn.
Do vậy ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền này vào mục đích kinh doanh
trong thời gian ký kết. Đối với tiền gửi có kỳ hạn thì thời hạn gửi có rất nhiều
loại, từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng,… Điều này tạo cho khách hàng có nhiều kỳ hạn
gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền họ có. Loại tiền gửi này thường
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
được trả lãi suất cao hơn so với lãi suất của loại tiền gửi không kỳ hạn bởi ngân
hàng có quyền sử dụng lượng tiền này trong thời gian nhất định.
1.2.2.1.3 Tiền gửi tiết kiệm
Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm hưởng lãi suất. Khi
khách hàng mang tiền đến gửi sẽ được ngân hàng cấp cho một cuốn sổ và mỗi lần
đến giao dịch ở ngân hàng thì khách hàng phải mang theo nó.
Tài khoản tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập cá nhân của người lao
động mà họ chưa đưa vào tiêu dùng, đây là một dạng đặc biệt để tích lũy tiền tệ
thay cho hình thức cất trữ vàng, hàng hóa. Có 3 loại tiền gửi tiết kiệm:
* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút
ra bất cứ lúc nào nhưng không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả
cho người khác. Số dư tiền gửi này không lớn nhưng nó ít biến động do vậy đối
với loại tiền gửi này thì các ngân hàng thường trả lãi suất cao hơn tiền gửi thanh
toán.
* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận trước về thời
gian gửi và thời hạn rút tiền, loại này có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi
không kỳ hạn. Đây là loại hình tiết kiệm khá quen thuộc ở Việt Nam, các Ngân
hàng thường huy động tiết kiệm với thời hạn từ ba tháng đến một năm.
* Tiết kiệm dài hạn: Đây là loại tiền gửi có tính ổn định cao bởi thời gian gửi
tiền từ một năm trở lên do vậy ngân hàng có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này
cho mục đích vốn dài hạn. Lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm dài hạn này cao
hơn so với 2 loại trên.
1.2.2.2 Huy động vốn bằng phát hành các giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá dùng để huy động vốn trong ngân hàng thực chất là các giấy
nợ mà ngân hàng trao cho những người cho ngân hàng vay tiền xác nhận quyền
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đòi nợ của khách hàng đối với ngân hàng ở một mức lãi suất và ngày hoàn trả
nhất định.
Việc phát hành giấy tờ có giá nhằm hình thành nguồn vốn sử dụng có tính ổn
định cao, và giải quyết những khoản vốn thiếu hụt có tính tình thế do khả năng
thu hút bằng nguồn tiết kiệm hạn chế.
1.2.2.2.1 Phát hành trái phiếu
Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi của ngân hanf phat hành
đối với người chủ sở hữu trái phiếu. Mục đích của ngân hàng khi phát hành tài
phiếu là huy động vốn trung và dài hạn. Các ngân hàng thương mại chịu sự quản
lý của Ngân hàn Trung Ương, các cơ quan quản lý trên thị trường chứng khoán
khi phát hành trái phiếu.
1.2.2.2.2 Phát hành kỳ phiếu
Kỳ phiếu là loại giấy tờ có giá ngắn hạn ( < 1 năm). Nó được sử dụng cho
mục đích vay vốn ngắn hạn của ngân hàng.
1.2.2.2.3 Phát hành chứng chỉ tiền gửi
Là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân hàng, người sở hữu
giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ vốn khi đến hạn và sau
khi phát hành thì chứng chỉ sẽ được lưu thông trên thị trường tiền tệ.
1.2.2.2.4 Phát hành các giấy tờ có giá khác
Hình thức phát hành phiếu nợ để thu hút vốn ở nước ngoài mà điển hình là
phát hành EURO DOLLAR. Đặc điểm là chỉ huy động vốn bằng đô la và trả vốn
gốc và lãi cũng bằng đô la. Ngân hàng thường sử dụng loại này để huy động vốn
ngắn hạn. Quyền phát hành ở một số nước trong đó có Việt Nam được giới hạn ở
một số ngân hàng đặc biệt như Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Xuất Nhập
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Khẩu được phép phát hành phiếu nợ này trong và nước ngoài còn với các ngân
hàng khác chỉ được phát hành ở nước ngoài. Huy động vốn dưới hình thức này
các Ngân hàng thương mại phải trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi do vậy khi
phát hành các giấy tờ có giá thì các Ngân hàng thương mại phải căn cứ vào đầu ra
để quyết định đến khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn cũng như
phương pháp huy động phù hợp.
1.2.2.3 Vay Ngân hàng nhà nước hoặc tổ chức tín dụng khác
Thông qua quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng thương mại với Ngân hàng
Trung ương hoặc giữa các Ngân hàng thương mại với nhau hay với các tổ chức
tín dụng khác mà nguồn vốn vay này có được. Vốn đi vay là nguồn vốn mà ngân
hàng chịu chi phí cao hơn vốn huy động, do vậy chỉ trong trường hợp ngân hàng
thiếu vốn khả dụng trong thời gian ngắn nào đó thì ngân hàng mới tìm đến các
Ngân hàng thương mại khác để thỏa mãn nhu cầu vốn khả dụng. Trong trường
hợp nếu không thỏa mãn được nhu cầu đó từ phía các Ngân hàng thương mại
khác thì phương án tiếp theo sẽ llaf đi vay của Ngân hàng Trung Ương. Tùy vào
mục đích sử dụng và hình thức vay mà các Ngân hàng thương mại có thể vay
Ngân hàng Trung Ương các loại vốn như vốn vay ngắn hạn hoặc vốn vay để
thanh toán giữa các Ngân hàng nhằm bù đắp những thiếu hụt tạm thời trong thanh
toán hoặc các Ngân hàng thương mại mang các giấy tờ có giá đến Ngân hàng
Trung Ương xin tái chiết khấu (tái cấp vốn).
Ngân hàng Trung Ương thông qua nhu cầu vay vốn của Ngân hàng thương
mại với Ngân hàng Trung Ương nhằm mục đích phát hành thêm tiền theo kế
hoạch, bổ sung khối lượng vốn khả dụng cho Ngân hàng thương mại một cách
thường xuyên và là cứu cánh cho vay cuối cùng nhằm cứu nguy cho các Ngân
hàng thương mại khi cần thiết, nếu sự đổ vỡ của các Ngân hàng thương mại có
thể gây ảnh hưởng đến sự ăn toàn của hệ thống Ngân hàng.
14
Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ hd tại tổ hợp tác kim khí Hồng Hà.doc.DOC
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+ Giữa ngời sản xuất với ngời tiêu dùng. Trong quá trình tái sản xuất, nếu
khâu tiêu thụ sản phẩm không thực hiện tốt sẽ làm cho sản phẩm bị ngừng
trệ.
+ Vì thực hiện giá trị sản phẩm trên thị trờng nên khâu tiêu thụ sản phẩm sẽ
bị tác động trực tiếp của quy luật thị trờng, quy luật giá trị, quy luật cung
cầu còn các quy luật thị trờng tác động vào khâu sản xuất, ngời sản xuất
thông qua hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác chất lợng hoạt động tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá doanh nghiệp sản xuất và thơng mại phục vụ khách
hàng doanh nghiệp dịch vụ
Quyết định chất lợng của hoạt động sản xuất hoặc chuẩn bị sản phẩm
hành hoá trớc khi tiêu thụ, vì nếu chỉ xét một cách trực diện hoạt động bán
hàng chỉ có thể đợc tiến hành sau khi bộ phân sản xuất đã sản xuất xong sản
phẩm, nên trớc đây ngời ta hay quan niệm hoạt động sản xuất đi trớc hoạt
động tiêu thụ. Từ thực tế hoạt động kinh doanh, quản trị kinh doanh hiện đại
cho rằng công tác nghiên cứu điều tra tiêu thụ sản phẩm phải đợc đặt ra trớc
khi hoạt động sản xuất, nên hoạt động tiêu thụ phải đứng trớc hoạt động sản
xuất và tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất.
Trong các doanh nghiệp sản xuất một chiến lợc tơng đối phù hợp với quá
trình phát triển thị trờng, và thể hiện đầy đủ tính chất động và tấn công, sẽ là
cơ sở đảm bảo cho một chiến lợc phát triển sản xuất kinh doanh nghiên cứu
và phát triển công nghệ thiết bị máy móc xây dựng và đào tạo một đội ngũ
cán bộ phù hợp nghiên cứu sử dụng máy móc và công nghệ mới, vật liệu thay
thế mới kinh doanh thiếu sự đúng đắn có tính định hớng chiến lợc không
đúng đắn của sản phẩm, xẽ dẫn đến việc đầu t sản xuất tiêu thụ không có
đích, hoặc nhằm sai mục đích, cả hai trờng hợp này đều dẫn đến hoạt động
sản xuất kinh doanh không có hiệu quả và xẩy ra thất bại. Với khoảng thời
gian trung và ngắn một kế hoạch tiêu thụ sản phẩm hàng hoá đúng đắn, luôn
luôn là cơ sở để có kế hoạch sản xuất thích hợp và ngợc lại.
Nếu kế hoạch thành phố hàng hoá không phù hợp với tiến trình phát
triển của thị trờng sẽ ảnh hởng trực tiếp đến khả năng tiến độ sản xuất. Trong
thực tế tổ chức kinh doanh nhịp độ cũng nh diễn biến của các hoạt động sản
xuất của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhịp độ và các diễn biến của doanh
nghiệp trong hoạt đông tiêu thụ sản phẩm là nhân tố cực kỳ quan trọng quyết
định hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc chuẩn bị hàng hoá dịch vụ. Sản
xuất không quyết định tiêu thụ mà ngợc lại tiêu thụ quyết định sản xuất.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Khái niệm tiêu thụ một cách chung nhất là quá trình thực hiện một giá trị
hàng hoá, qua tiêu thụ hàng hoá chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái
tiền tệ.
+ Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của vòng chu chuyển vốn quay vòng doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh. Sản phẩm hàng hoá chỉ đợc coi là tiêu thụ khi
doanh nghiệp đã nhận đợc tiền bán.
Nói chung sự cần thiết về tiêu thụ sản phẩm là mục tiêu cần bán hết sản
phẩm đã đợc sản xuất với doanh thu tối đa và chi phí cho hoạt động kinh
doanh tối thiểu với mục tiêu đó trong quản trị doanh nghiệp hiện đại về tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá không phải là hoạt động thụ động chờ bộ phận sản
xuất tạo rảan phẩm rồi mới tìm cách tiêu thụ chúng mà hoạt động tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá có nhiệm vụ nghiên cứu thị trờng xác định cầu thị trờng và
cầu bản thân của doanh nghiệp, trong thị trờng các doanh nghiệp đang hoặc
sẽ có khả năng sản xuất để quyết định đầu t, phải phát triển sản xuất sản
phẩm và kinh doanh tối u. Chủ động tiến hành các hoạt động kinh doanh
quảng cáo cần thiết và nhằm giới thiệu các khách hàng.
Để thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm thờng đợc
tổ chức thành các hoạt động chủ yếu là hoạt động chuẩn bị bao gồm công
tác nghiên cứu, công tác quảng cáo, công tác đẩy mạnh và phát triển bán
hàng, tổ chức các hoạt động bán hàng và sự cần thiết sau hoạt động bán hàng.
3.Vai trò của tiêu thụ sản phẩm.
- Tiêu thụ sản phẩm có một vị trí rất quan trọng trong hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp.
- Nó là một trong 2 chức năng cơ bản của quá trình lu thông hàng hóa trong
xã hội.
- Tiêu hụ sản phẩm quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên
thực tế. Mục đích của doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh là thu
đợc lợi nhuận thông qua bán hàng. Vì vậy khâu tiêu thụ phải là khâu quan
trọng nhất, nó chi phối các khâu nghiệp vụ khác cũng nh hoạt động tái đầu t
mở rộng.
- Thông qua tiêu thụ sản phẩm, tính hữu ích của sản phẩm mới đợc xác định
hoàn toàn.
- Tiêu thụ sản phẩm giúp các doanh nghiệp nắm bắt đợc nhu cầu thị trờng,
thị hiếu khách hàng, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Hệ thống tiêu thụ sản phẩm tốt sẽ làm giảm thấp mức giá cả của hàng hoá,
thúc đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa, tăng vòng quay của vốn, nâng
cao uy tín của doanh nghiệp.
II. nội dung chủ yếu của công tác tổ chức tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp công nghiệp.
1. Nghiên cứu nhu cầu thị trờng:
Để thành công trên thơng trờng, đòi hỏi bất cứ một doanh nghiệp nào cũn
phải thực hiện công tác nghiên cứu, thăm dò và xâm nhập thị trờng của
doanhs nghiệp nhằm mục tiêu nhận biết và đánh giá khái quát khả năng xâm
nhập về tiềm năng của thị trờng để định hớng quyết định lựa chọn thị trờng
tiềm năng và chiến lợc tiêu thụ của doanh nghiệp.
Đây là công việc phức tạp và tốn kém vì vậy phải tuân thủ chặt chẽ từng
bớc để tránh sai lầm và tốn kém vô ích.
B ớc 1: Tổ chức thu thập hợp lý các nguồn thông tin về nhu cầu của thị
trờng, các thông số đó bao gồm: Địa điểm, sức mua, sức bán, giá cả, yêu cầu
của từng loại thị trờng, từng loại sản phẩm. Để xác định hớng kinh doanh
mới, phát huy đợc lợi thế vốn, các doanh nghiệp phải xác định đợc là không
thể đạt đợc mục tiêu nếu không thiết lập đợc tổ chức thông tin kinh doanh
của mình. Vì vậy, việc thu thập đầy đủ thông tin là việc hết sức cần thiết,
nắm vững đặc điểm thông tin là cơ sở cho việc đề ra các quyết định kinh
doanh đúng đắn, là tiền đề cho sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.
B ớc 2: Phân tích và sử dụng thông tin.
Phân tích và xử lý đúng thông tin để thu thập đợc về nhu cầu các loại thị
trờng. Doanh nghiệp phải biết lựa chọn những thông tin đáng tin cậy để tránh
sai lầm khi ra quyết định. Việc xử lý thông tin phải đảm bảo tính khả thi trên
các thông tin của doanh nghiệp.
B ớc 3:
Xác định nhu cầu thị trờng: Xác định nhu cầu thị trờng mà doanh nghiệp
có khả năng đáp ứng. Khi nhu cầu thị trờng rất lớn song doanh nghiệp phải
biết lựa chọn phù hợp với khả năng của mình. qua nghiên cứu nhu cầu thị tr-
ờng phải giải quyết các vấn đề sau:
- Thời gian cung cấp hàng hoá đúng dịp.
- Xác định dung lợng thị trờng.
- Sản xuất cái gì? đặc điểm của sản phẩm?
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Giá bình quan trên thị trờng trong từng thời kỳ.
- Những yêu cầu của thị trờng về hàng hoá nh: Mẫu mã, chất lợng, phơng
thức thanh toán, chất lợng, phơng thức thanh toán, vận chuyển.
- Tình hình hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh về năng lực sản
xuất, chất lợng sản phẩm, thị trờng của đối thủ cạnh tranh trên thị trờng.
- Doanh nghiệp cần đạt bao nhiêu phần trăm thị phần trong thời gian tới.
2. Xây dựng kế hoạh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
a. Nội dung kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Việc bán hàng nhằm thoả mãn một hay một số mục tiêu sau: Thâm nhập
thị trờng mới, tăng sản lợng, tối đa hoá doanh thu, tối đa hoá lợi nhuận hay
bán hết hàng ứ đọng Các mục tiêu đó đợc lựa chọn và cụ thể hoá thành các
nhiệm vụ chủ yếu sau:
Sản lợng bán: Cho thấy từng mặt hàng và cho tất cả các mặt hàng, cho
từng khách hàng và cho từng thời kỳ khác nhau, cho sản phẩm sản xuất
trong kỳ và sản phầm tồn kho cuối kỳ.
Chi phí bán hàng, các loại chi phí lu thông bao gồm cả chi phí
Marketting.
Tổng mức lãi: Tính theo từng mặt hàng và tính cho toàn bộ các mặt hàng.
Tiến độ tiêu thụ sản phẩm: Cần hoạch định một cách chi tiết, cụ thể và
phải đợc tuân thủ một cách nghiêm ngặt bởi vì tiến độ bán hàng của doanh
nghiệp không chỉ ảnh hởng tới quá trình bán hàng mà còn ảnh hởng tới tiến
độ sản xuất và tiến độ cung ứng.
- Điều kiện liên quan tới tiêu thụ sản phẩm: Địa điểm giao hàng, phơng
thức thanh toán, phơng thức vận chuyển, mức triết khấu tất cả phải đợc xác
định rõ ràng trong chơng trình bán hàng.
Việc xác định lợng dự chữ cho tiêu thụ này phụ thuộc vào nhu cầu của
khách hàng, đặc tính của từng loại hàng hoá, lợng hàng hoá tồn kho đầu kỳ,
kế hoạch và chơng trình sản xuất của doanh nghiệp.
- Dự kiến biến động trong qúa trình tiêu thụ sản phẩm đối với doanh
nghiệp: Khó khăn về cung ứng nguyên vật liệu, khó khăn về vốn, về vận
chuyển, thời tiết.
Đối với khách hàng: Không bán đợc hàng, không sử dụng đợc hàng hoá,
cha trả tiền đúng hạn Và dự kiến những biến động có thể xảy ra trên thị tr-
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ờng từ đó, dự kiến chơng trình dự phòng và nguyên tắc ứng xử nếu xảy ra các
biến động.
b. Căn cứ để hoạch định kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
công nghiệp.
- Nhu cầu của thị trờng về sản phẩm: Sản phẩm chất lợng, cơ cấu, giá cả hiện
tại và xu thế vận động của nó trong tơng lai.
- Phơng án kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn đặc biệt là chơng trình sản
xuất để triển khai thực hiện phơng án kinh doanh.
- Chiến lợc và chính sách kinh doanh của doanh nghiệp đối với t cách là quan
điểm chỉ đạo, nguyên tắc chi phối chơng trình bán hàng của doanh nghiệp
công nghiệp.
- Đơn đặt hàng, hợp đồng tiêu thụ dã ký kết.
- Các căn cứ khác: Dự kiến về tăng chi phí Marketing. Sự thay đổi mạng lới
bán hàng, khả năng thu hút thêm khách mới, khả năng mở rộng thị trờng,
chính sách điều tiết vĩ mô của Nhà nớc
c. Quá trình hoạch định kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là một kế hoạch hành động của doanh
nghiệp đợc dùng một lần để thực hiện những mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp. Chơng trình bán hàng không chỉ để ra các mục tiêu bán hàng cần đạt
đợc mà còn xác định trình tự tổ chức và các điều kiện để thực hiện mục tiêu,
nhiệm vụ. Muốn lập chơng trình bán hàng có hiệu quả cần thực hiện các bớc
sau:
b1.Tập hợp các thông tin, căn cứ cần thiết làm cơ sở cho việc xác định
nhiệm vụ, mục tiêu, trong đó, đặc biệt chú ý tới đơn đặt hàng, hợp đồng iêu
thụ đã ký kết, nhu cầu thị trờng đã xác định, dự báo nhu cầu thị trờng trong t-
ơng lai.
b2. Xây dựng các phơng án về mục tiêu, nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm
trong đó đa ra quyết định lựa chọn mục tiêu, nhiệm vụ trong thời kỳ hoạch
định.
b3. Chia toàn bộ công việc cần thực hiện để đạt đợc mục tiêu bán hàng
thành các phần việc hay các dự án. Xác định mối quan hệ giữa các phần việc
và xắp xếp chúng theo một trình tự thực hiện trên cơ sở đó lập tiến độ bán
hàng.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
b4. Quyết định ngời chịu trách nhiệm mỗi phần việc, có thể phân công
theo dõi từng ngành hàng hoặc từng địa phơng, từng khách hàng, đại lý hay
một số cửa hàng nào đó.
b5. Lựa chọn và quyết định cách thức thực hiện, các nguồn chi phí và
các nguồn lực khác dành cho bán hàng.
3. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm.
a. Tổ chức mạng lới tiêu thụ : Mạng lới tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
đợc cấu thành bởi các yếu tố:
- Ngời sản xuất đợc coi là ngời bán thứ nhất, họ bán cái mà họ sản xuất ra.
Điểm xuất phát của quá trình vận động hàng hoá là từ nơi sản xuất, từ chính
nơi nó đợc tạo ra.
- Ngời tiêu dùng: Là ngời sử dụng sản phẩm mua đợc để thảo mãn nhu cầu
nào đó của họ.
- Ngời bán buôn: thực hiện hoạt động thơng mại thuần tuý. Đặc trng cơ bản
trong hoạt động của yếu tố này là mua với khối lợng lớn một loại hàng hoá
nào đó. Ngời bán buôn thờng có thế lực lớn.
- Ngời bán lẻ: Thực hiện hoạt động thơng mại thuần tuý nhng có thế lực yếu
hơn ngời bán buôn, họ là ngời tiếp xúc trực tiếp với ngời mua cuối cùng, nên
nắm sát thông tin về thị trờng sản phẩm.
- Ngời đại lý: Là một loại hình kinh doanh làm chức năng trung gian trong
quá trình vận động hàng hoá. Đối với công tác bán hàng của doanh nghiệp
công nghiệp cần tập trung quan tâm đến đại lý tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp chứ không phải là đại lý cho ngời bán buôn hay bán lẻ.
- Ngời môi giới: Ngời môi giới là ngời cần thiết trong mạng lới bán hàng của
doanh nghiệp, vì: Sự phức tạp trong quan hệ cung cầu, tính cạnh tranh ngày
càng gay gắt, sự bất lực của ngời mua và ngời bán trong việc nắm bắt nhanh,
nhạy và chính xác các thông tin trên thị trờng. ngời môi giới có 3 chức năng
cơ bản sau: Giúp ngời bán tìm đợc ngời mua và ngợc lại, giúp cách thức mua
bán, thực hiện mua bán uỷ thác.
Các loại kênh tiêu thụ:
Kênh ngắn:
Sơ đồ 1: Kênh trực tiếp và kênh một cấp
10
Nhà sản xuất Ngời tiêu dùng
Ngời bán lẻ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Kênh1: kênh này doanh nghiệp trực tiếp đa hàng tới ngời tiêu dùng cuối
cùng không qua khâu trung gian.
Ưu điểm: đẩy nhanh tốc độ lu thông hàng hoá, đảm bảo sự chặt chẽ
trong giao tiếp doanh nghiệp về khách hàng. Doanh nghiệp đợc lợi nhuận cao
trên một đơn vị sản phẩm.
Nh ợc điểm: Hạn chế về trình độ chuyên môn hoá, tổ chức quản lý về
kênh phân phối phức tạp, chu chuyển vốn chậm, nhân lực phân tán, kênh này
chiếm tỷ trọng nhỏ, quan hệ thị trờng hẹp.
Kênh 2: Kênh rút gọn hay kênh trực tiếp, kênh này sử dụng một trong
một số trờng hợp, trình độ chuyên môn hoá và quy mô của công ty bán lẻ cho
phép xác lập quan hệ trao đổi trực tiếp với ngời sản xuất trên cơ sở tự đảm
nhận chức năng tự buôn bán.
Ưu điểm: Một mặt vẫn phát huy u thế của loại hình kênh trực tuyến. Mặt
khác giải phóng cho sản xuất chức năng lu thông để chuyên môn hoá và
phát triển năng lực sản xuất của mình, đảm bảo trình độ xã hội hoá sản xuất
cao hơn và ổn định. Hợp lý trong tiếp thị các hàng hoá đợc sản xuất.
Nh ợc điểm: Cha phát huy đợc tính u việt của phân công lao động xã hội.
Vì vậy loại hình này chỉ áp dụng có hiệu qủa với một số đơn vị bán lẻ thích
hợp cho một số mặt hàng đơn giản xác định trong khoảng cách không gian
so với điểm phát nguồn hàng phục vụ cho một số nhu câu thờng xuyên ổn
định của ngời tiêu dùng xác định.
- Kích thích tiêu dùng khuyến mãi: Băng phơng pháp bán hàng nh trả góp
thờng đợc áp dụng với những mặt hàng có giá trị nh ô tô, xe máy, nhà
ngoài ra còn các đợ giải thởng lớn nhằm kích thích tiêu dùng.
Tổ chức dịch vụ sau bán hàng:
Ngày nay trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hoạt động này đợc nhiều nhà
doanh nghiệp quan tâm đặc biệt là những sản phẩm có tính năng kỹ thuật
cao. Nó không chỉ tạo ra sự yên tâm cho khách hàng khi sử dụng mà còn góp
phần kéo dài tuổi thọ cho sản phẩm nh dịch vụ bảo hành, sửa chữa sản phẩm,
đóng gói, hớng dẫn sử dụng sản phẩm cho khách hàng.
Kênh dài:
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ2: Kênh hai cấp và kênh ba cấp
Kênh 3: Đây là loại kênh phổ biến nhất trong các kênh phân phối hàng
hoá. kênh này thờng đợc sử dụng đối với những mặt hàng có một số ngời
sản xuất ở một nơi nhng tiêu thụ ở nhiều nơi. Đặc điểm là những ngời sản
xuất có quy mô lớn, lợng hàng hoá lớn đợc sản xuất phục vụ cho nhu cầu của
một địa phơng hay vùng.
Ưu điểm: Do quan hệ mua bán theo từng khâu nên tổ chức kinh doanh
chặt chẽ, vòng quay vốn nhanh. ngời sản xuất và ngời trung gian do chuyên
môn hoá nên có điều kiện nâng cao chất lợng lao động, khả năng thoả mãn
nhu cầu thị trờng với số lợng đa dạng về chủng loại và chất lợng.
Nh ợc điểm: Do kênh dài nên rủi ro cao, việc điều hành kiểm soát tiêu thụ
khó khăn, thời gian lu thông dài, chi phí iêu thụ ảnh hởng đến giá cả và chất
lợng hàng hoá.
Kênh 4: Mở rộng của kênh 3 thêm ngời môi giới, kênh này thờng đợc sử
dụng với mặt hàng thị trờng mới.
Các yếu tố cấu thành mạng lới bán hàng có quan hệ tơng tác với nhau.
b. Xác định giá sản phẩm.
Định giá bán sản phẩm là vấn đề hết sức quan trọng có ảnh hởng trực
tiếp đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy
sau việc điều tra nhu cầu thị trờng, xác định chiến lợc sản phẩm ta cần phải
xây dựng chiến lợc giá cả nhằm đa ra mục tiêu và căn cứ đánh giá. Mục tiêu
trong chiến lợc giá cả có thể cho là hai nhóm sau:
Nhóm thứ nhất:
- Liên quan tới lợi nhuận, có thể là tối đa hoá lợi nhuận, hoặc duy trì mức lợi
nhuận đang đạt đợc.
12
Nhà sản
xuất
Ngời môi
giới
Ngời bán
buôn
Ngời bán
lẻ
Ngời tiêu
dùng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nhóm thứ hai:
- Liên quan tới vị trí của doanh nghiệp trên thị trờng và trớc các đối thủ cạnh
tranh. Căn cứ chủ yếu để xây dựng giá cả là:
- Phải căn cứ vào pháp luật, yêu sách của Chính phủ, chế độ quản lý và Ban
vật giá Nhà nớc. Phải dựa vào chi phí sản xuất và giá thành đơn vị sản phẩm
trong dự toán.
- Phải xây dựng phù hợp với đặc điểm thị trờng cạnh tranh, các điều kiện
thời gian và không gian cụ thể.
Ngoài ra chiến lợc giá còn phải xác định một cái khung để hớng dẫn các
quá trình lập các mức giá cụ thể cho từng sản phẩm.
Do phụ thuộc nhiều yếu tố nên khi ấn định giá ngoài các tính toán cụ thể
còn phải có sách lợc ứng xử cụ thể cho phù hợp với từng hoàn cảnh và điều
kiện của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Nói một cách khác khi ấn định
mức giá các doanh nghiệp còn phải xét tới một loạt các khía cạnh nh:
Một là:
+ Thu nhập dân c
+ Quy mô thị trờng
+ Sở thích và tập quán tiêu dùng
+Khả năng cung cấp của các nhà cạnh tranh
+ Chính sách phát triển kinh tế của Nhà nớc.
Hai là:
+Sức hấp dẫn của các sản phẩm với khách hàng cao hay thấp.
Ba là:
+ Hình thái thị thái thị trờng mà các doanh nghiệp sẽ bán sản phẩm của
mình (thị trờng độc quyền thị trờng cạnh tranh hoàn hảo, hay thị trờng vừa
độc quyền, vừa cạnh tranh).
Nói chung, xác định mức giá sản phẩm phù hợp cho mọi đối tợng khách
hàng của từng vùng là nội dung rất quan trọng trong việc thúc đẩy công tác
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Vì trên thị trờng sau kh xác định mặt
hàng, loại sản phẩm cần mua sắm thì yếu tố gía cả đóng vai trò chủ chốt
quyết định hành vi mua sắm của khách hàng theo quy luật cung cầu, giá càng
giảm thì khối lợng cầu càng tăng và ngợc lại. Vấn đề đặt ra là làm sao thiết
lập đợc mức giá phù hợp với từng khách hàng, đảm bảo cho việc bù đắp chi
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phí và có lãi là yếu tố hết sức quan trọng đòi hỏi sự quan sát nhậy bén, có óc
sáng tạo tìm hiểu sâu sắc thị trờng của các cán bộ làm nghiên cứu thị trờng
nói chung và cán bộ làm giá cả của từng doanh nghiệp nói riêng.
c. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Đây là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động bán
hàng là hoạt động mang tính nghệ thuật tác động đến tâm lý ngời mua, nhằm
mục đích bán đợc hàng nhiều nhất, hiệu quả bán hàn cao nhất. Quá trình tác
động tâm lý khách hàng gồm nhiều giai đoạn.
Diễn biến này chỉ có xuôi không có ngợc lại. Vì vậy mà tác động của ng-
ời mua đến ngời mua cũng theo trình tự đó. Nghệ thuật của ngời bán là có thể
làm chủ đợc quá trình bán hay không. Quá trình tiêu thụ sản phẩm của các
doanh nghiệp có các bớc sau:
b1. Đàm phán ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm. Trong nền kinh tế thị
trờng hợp đồng tiêu thụ sản phẩm không chỉ là căn cứ pháp lý quy định trach
nhiệm, quyền hạn mỗi bên tham gia hợp đồng, mà còn là căn cứ quan trọng
để doanh nghiệp lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ đạt độ an toàn cao.
b2. Tổ chức kho thành phẩm:
Đây là công việc đảm bảo quản lý chất lợng sản phẩm trớc khi đem tiêu
thụ sản phẩm. Do đó phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tổ chức kho
thành phẩm của Nhà nớc hoặc doanh nghiệp, tránh tình trạng hao hụt, mất
mát, suy giảm chất lợng. Chuẩn bị kho phải đúng với sản phẩm,căn cứ đặc
điểm kỹ thuật của sản phẩm, đủ lợng hàng dự trữ trong kỳ, thuận tiện cho
chuyên chở và chi phí kho là ít nhất.
b3. Tổ chức vận chuyển hàng hoá theo phơng thức vận tải thich hợp và
có hiệu quả.
b4. Các phơng thức thanh toán và giao nhận hàng hoá.
*Các ph ơng thức giao nhận chủ yếu.
- Giao nhận tại xởng: ngời bán phải đặt hàng dới quyền định đoạt của ngời
mua trong thời hạn và địa điểm hợp lý theo quy định, còn ngời mua phải
nhận hàng tại xởng của ngời bán và chịu mọi rủi ro phí tổn vận chuyển.
- Giao nhận cho ngời vận tải: Phơng thức này áp dụng quen thuộc trong xuất
nhạp khẩu với khách hàng ký hợp đồng thờng xuyên, làm soa cho ngời nhận
hàng đúng chất lợng, thời gian và địa điểm quy định.
14
+ Giữa ngời sản xuất với ngời tiêu dùng. Trong quá trình tái sản xuất, nếu
khâu tiêu thụ sản phẩm không thực hiện tốt sẽ làm cho sản phẩm bị ngừng
trệ.
+ Vì thực hiện giá trị sản phẩm trên thị trờng nên khâu tiêu thụ sản phẩm sẽ
bị tác động trực tiếp của quy luật thị trờng, quy luật giá trị, quy luật cung
cầu còn các quy luật thị trờng tác động vào khâu sản xuất, ngời sản xuất
thông qua hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác chất lợng hoạt động tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá doanh nghiệp sản xuất và thơng mại phục vụ khách
hàng doanh nghiệp dịch vụ
Quyết định chất lợng của hoạt động sản xuất hoặc chuẩn bị sản phẩm
hành hoá trớc khi tiêu thụ, vì nếu chỉ xét một cách trực diện hoạt động bán
hàng chỉ có thể đợc tiến hành sau khi bộ phân sản xuất đã sản xuất xong sản
phẩm, nên trớc đây ngời ta hay quan niệm hoạt động sản xuất đi trớc hoạt
động tiêu thụ. Từ thực tế hoạt động kinh doanh, quản trị kinh doanh hiện đại
cho rằng công tác nghiên cứu điều tra tiêu thụ sản phẩm phải đợc đặt ra trớc
khi hoạt động sản xuất, nên hoạt động tiêu thụ phải đứng trớc hoạt động sản
xuất và tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất.
Trong các doanh nghiệp sản xuất một chiến lợc tơng đối phù hợp với quá
trình phát triển thị trờng, và thể hiện đầy đủ tính chất động và tấn công, sẽ là
cơ sở đảm bảo cho một chiến lợc phát triển sản xuất kinh doanh nghiên cứu
và phát triển công nghệ thiết bị máy móc xây dựng và đào tạo một đội ngũ
cán bộ phù hợp nghiên cứu sử dụng máy móc và công nghệ mới, vật liệu thay
thế mới kinh doanh thiếu sự đúng đắn có tính định hớng chiến lợc không
đúng đắn của sản phẩm, xẽ dẫn đến việc đầu t sản xuất tiêu thụ không có
đích, hoặc nhằm sai mục đích, cả hai trờng hợp này đều dẫn đến hoạt động
sản xuất kinh doanh không có hiệu quả và xẩy ra thất bại. Với khoảng thời
gian trung và ngắn một kế hoạch tiêu thụ sản phẩm hàng hoá đúng đắn, luôn
luôn là cơ sở để có kế hoạch sản xuất thích hợp và ngợc lại.
Nếu kế hoạch thành phố hàng hoá không phù hợp với tiến trình phát
triển của thị trờng sẽ ảnh hởng trực tiếp đến khả năng tiến độ sản xuất. Trong
thực tế tổ chức kinh doanh nhịp độ cũng nh diễn biến của các hoạt động sản
xuất của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhịp độ và các diễn biến của doanh
nghiệp trong hoạt đông tiêu thụ sản phẩm là nhân tố cực kỳ quan trọng quyết
định hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc chuẩn bị hàng hoá dịch vụ. Sản
xuất không quyết định tiêu thụ mà ngợc lại tiêu thụ quyết định sản xuất.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Khái niệm tiêu thụ một cách chung nhất là quá trình thực hiện một giá trị
hàng hoá, qua tiêu thụ hàng hoá chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái
tiền tệ.
+ Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của vòng chu chuyển vốn quay vòng doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh. Sản phẩm hàng hoá chỉ đợc coi là tiêu thụ khi
doanh nghiệp đã nhận đợc tiền bán.
Nói chung sự cần thiết về tiêu thụ sản phẩm là mục tiêu cần bán hết sản
phẩm đã đợc sản xuất với doanh thu tối đa và chi phí cho hoạt động kinh
doanh tối thiểu với mục tiêu đó trong quản trị doanh nghiệp hiện đại về tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá không phải là hoạt động thụ động chờ bộ phận sản
xuất tạo rảan phẩm rồi mới tìm cách tiêu thụ chúng mà hoạt động tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá có nhiệm vụ nghiên cứu thị trờng xác định cầu thị trờng và
cầu bản thân của doanh nghiệp, trong thị trờng các doanh nghiệp đang hoặc
sẽ có khả năng sản xuất để quyết định đầu t, phải phát triển sản xuất sản
phẩm và kinh doanh tối u. Chủ động tiến hành các hoạt động kinh doanh
quảng cáo cần thiết và nhằm giới thiệu các khách hàng.
Để thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm thờng đợc
tổ chức thành các hoạt động chủ yếu là hoạt động chuẩn bị bao gồm công
tác nghiên cứu, công tác quảng cáo, công tác đẩy mạnh và phát triển bán
hàng, tổ chức các hoạt động bán hàng và sự cần thiết sau hoạt động bán hàng.
3.Vai trò của tiêu thụ sản phẩm.
- Tiêu thụ sản phẩm có một vị trí rất quan trọng trong hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp.
- Nó là một trong 2 chức năng cơ bản của quá trình lu thông hàng hóa trong
xã hội.
- Tiêu hụ sản phẩm quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên
thực tế. Mục đích của doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh là thu
đợc lợi nhuận thông qua bán hàng. Vì vậy khâu tiêu thụ phải là khâu quan
trọng nhất, nó chi phối các khâu nghiệp vụ khác cũng nh hoạt động tái đầu t
mở rộng.
- Thông qua tiêu thụ sản phẩm, tính hữu ích của sản phẩm mới đợc xác định
hoàn toàn.
- Tiêu thụ sản phẩm giúp các doanh nghiệp nắm bắt đợc nhu cầu thị trờng,
thị hiếu khách hàng, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Hệ thống tiêu thụ sản phẩm tốt sẽ làm giảm thấp mức giá cả của hàng hoá,
thúc đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa, tăng vòng quay của vốn, nâng
cao uy tín của doanh nghiệp.
II. nội dung chủ yếu của công tác tổ chức tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp công nghiệp.
1. Nghiên cứu nhu cầu thị trờng:
Để thành công trên thơng trờng, đòi hỏi bất cứ một doanh nghiệp nào cũn
phải thực hiện công tác nghiên cứu, thăm dò và xâm nhập thị trờng của
doanhs nghiệp nhằm mục tiêu nhận biết và đánh giá khái quát khả năng xâm
nhập về tiềm năng của thị trờng để định hớng quyết định lựa chọn thị trờng
tiềm năng và chiến lợc tiêu thụ của doanh nghiệp.
Đây là công việc phức tạp và tốn kém vì vậy phải tuân thủ chặt chẽ từng
bớc để tránh sai lầm và tốn kém vô ích.
B ớc 1: Tổ chức thu thập hợp lý các nguồn thông tin về nhu cầu của thị
trờng, các thông số đó bao gồm: Địa điểm, sức mua, sức bán, giá cả, yêu cầu
của từng loại thị trờng, từng loại sản phẩm. Để xác định hớng kinh doanh
mới, phát huy đợc lợi thế vốn, các doanh nghiệp phải xác định đợc là không
thể đạt đợc mục tiêu nếu không thiết lập đợc tổ chức thông tin kinh doanh
của mình. Vì vậy, việc thu thập đầy đủ thông tin là việc hết sức cần thiết,
nắm vững đặc điểm thông tin là cơ sở cho việc đề ra các quyết định kinh
doanh đúng đắn, là tiền đề cho sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.
B ớc 2: Phân tích và sử dụng thông tin.
Phân tích và xử lý đúng thông tin để thu thập đợc về nhu cầu các loại thị
trờng. Doanh nghiệp phải biết lựa chọn những thông tin đáng tin cậy để tránh
sai lầm khi ra quyết định. Việc xử lý thông tin phải đảm bảo tính khả thi trên
các thông tin của doanh nghiệp.
B ớc 3:
Xác định nhu cầu thị trờng: Xác định nhu cầu thị trờng mà doanh nghiệp
có khả năng đáp ứng. Khi nhu cầu thị trờng rất lớn song doanh nghiệp phải
biết lựa chọn phù hợp với khả năng của mình. qua nghiên cứu nhu cầu thị tr-
ờng phải giải quyết các vấn đề sau:
- Thời gian cung cấp hàng hoá đúng dịp.
- Xác định dung lợng thị trờng.
- Sản xuất cái gì? đặc điểm của sản phẩm?
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Giá bình quan trên thị trờng trong từng thời kỳ.
- Những yêu cầu của thị trờng về hàng hoá nh: Mẫu mã, chất lợng, phơng
thức thanh toán, chất lợng, phơng thức thanh toán, vận chuyển.
- Tình hình hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh về năng lực sản
xuất, chất lợng sản phẩm, thị trờng của đối thủ cạnh tranh trên thị trờng.
- Doanh nghiệp cần đạt bao nhiêu phần trăm thị phần trong thời gian tới.
2. Xây dựng kế hoạh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
a. Nội dung kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Việc bán hàng nhằm thoả mãn một hay một số mục tiêu sau: Thâm nhập
thị trờng mới, tăng sản lợng, tối đa hoá doanh thu, tối đa hoá lợi nhuận hay
bán hết hàng ứ đọng Các mục tiêu đó đợc lựa chọn và cụ thể hoá thành các
nhiệm vụ chủ yếu sau:
Sản lợng bán: Cho thấy từng mặt hàng và cho tất cả các mặt hàng, cho
từng khách hàng và cho từng thời kỳ khác nhau, cho sản phẩm sản xuất
trong kỳ và sản phầm tồn kho cuối kỳ.
Chi phí bán hàng, các loại chi phí lu thông bao gồm cả chi phí
Marketting.
Tổng mức lãi: Tính theo từng mặt hàng và tính cho toàn bộ các mặt hàng.
Tiến độ tiêu thụ sản phẩm: Cần hoạch định một cách chi tiết, cụ thể và
phải đợc tuân thủ một cách nghiêm ngặt bởi vì tiến độ bán hàng của doanh
nghiệp không chỉ ảnh hởng tới quá trình bán hàng mà còn ảnh hởng tới tiến
độ sản xuất và tiến độ cung ứng.
- Điều kiện liên quan tới tiêu thụ sản phẩm: Địa điểm giao hàng, phơng
thức thanh toán, phơng thức vận chuyển, mức triết khấu tất cả phải đợc xác
định rõ ràng trong chơng trình bán hàng.
Việc xác định lợng dự chữ cho tiêu thụ này phụ thuộc vào nhu cầu của
khách hàng, đặc tính của từng loại hàng hoá, lợng hàng hoá tồn kho đầu kỳ,
kế hoạch và chơng trình sản xuất của doanh nghiệp.
- Dự kiến biến động trong qúa trình tiêu thụ sản phẩm đối với doanh
nghiệp: Khó khăn về cung ứng nguyên vật liệu, khó khăn về vốn, về vận
chuyển, thời tiết.
Đối với khách hàng: Không bán đợc hàng, không sử dụng đợc hàng hoá,
cha trả tiền đúng hạn Và dự kiến những biến động có thể xảy ra trên thị tr-
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ờng từ đó, dự kiến chơng trình dự phòng và nguyên tắc ứng xử nếu xảy ra các
biến động.
b. Căn cứ để hoạch định kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
công nghiệp.
- Nhu cầu của thị trờng về sản phẩm: Sản phẩm chất lợng, cơ cấu, giá cả hiện
tại và xu thế vận động của nó trong tơng lai.
- Phơng án kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn đặc biệt là chơng trình sản
xuất để triển khai thực hiện phơng án kinh doanh.
- Chiến lợc và chính sách kinh doanh của doanh nghiệp đối với t cách là quan
điểm chỉ đạo, nguyên tắc chi phối chơng trình bán hàng của doanh nghiệp
công nghiệp.
- Đơn đặt hàng, hợp đồng tiêu thụ dã ký kết.
- Các căn cứ khác: Dự kiến về tăng chi phí Marketing. Sự thay đổi mạng lới
bán hàng, khả năng thu hút thêm khách mới, khả năng mở rộng thị trờng,
chính sách điều tiết vĩ mô của Nhà nớc
c. Quá trình hoạch định kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là một kế hoạch hành động của doanh
nghiệp đợc dùng một lần để thực hiện những mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp. Chơng trình bán hàng không chỉ để ra các mục tiêu bán hàng cần đạt
đợc mà còn xác định trình tự tổ chức và các điều kiện để thực hiện mục tiêu,
nhiệm vụ. Muốn lập chơng trình bán hàng có hiệu quả cần thực hiện các bớc
sau:
b1.Tập hợp các thông tin, căn cứ cần thiết làm cơ sở cho việc xác định
nhiệm vụ, mục tiêu, trong đó, đặc biệt chú ý tới đơn đặt hàng, hợp đồng iêu
thụ đã ký kết, nhu cầu thị trờng đã xác định, dự báo nhu cầu thị trờng trong t-
ơng lai.
b2. Xây dựng các phơng án về mục tiêu, nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm
trong đó đa ra quyết định lựa chọn mục tiêu, nhiệm vụ trong thời kỳ hoạch
định.
b3. Chia toàn bộ công việc cần thực hiện để đạt đợc mục tiêu bán hàng
thành các phần việc hay các dự án. Xác định mối quan hệ giữa các phần việc
và xắp xếp chúng theo một trình tự thực hiện trên cơ sở đó lập tiến độ bán
hàng.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
b4. Quyết định ngời chịu trách nhiệm mỗi phần việc, có thể phân công
theo dõi từng ngành hàng hoặc từng địa phơng, từng khách hàng, đại lý hay
một số cửa hàng nào đó.
b5. Lựa chọn và quyết định cách thức thực hiện, các nguồn chi phí và
các nguồn lực khác dành cho bán hàng.
3. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm.
a. Tổ chức mạng lới tiêu thụ : Mạng lới tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
đợc cấu thành bởi các yếu tố:
- Ngời sản xuất đợc coi là ngời bán thứ nhất, họ bán cái mà họ sản xuất ra.
Điểm xuất phát của quá trình vận động hàng hoá là từ nơi sản xuất, từ chính
nơi nó đợc tạo ra.
- Ngời tiêu dùng: Là ngời sử dụng sản phẩm mua đợc để thảo mãn nhu cầu
nào đó của họ.
- Ngời bán buôn: thực hiện hoạt động thơng mại thuần tuý. Đặc trng cơ bản
trong hoạt động của yếu tố này là mua với khối lợng lớn một loại hàng hoá
nào đó. Ngời bán buôn thờng có thế lực lớn.
- Ngời bán lẻ: Thực hiện hoạt động thơng mại thuần tuý nhng có thế lực yếu
hơn ngời bán buôn, họ là ngời tiếp xúc trực tiếp với ngời mua cuối cùng, nên
nắm sát thông tin về thị trờng sản phẩm.
- Ngời đại lý: Là một loại hình kinh doanh làm chức năng trung gian trong
quá trình vận động hàng hoá. Đối với công tác bán hàng của doanh nghiệp
công nghiệp cần tập trung quan tâm đến đại lý tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp chứ không phải là đại lý cho ngời bán buôn hay bán lẻ.
- Ngời môi giới: Ngời môi giới là ngời cần thiết trong mạng lới bán hàng của
doanh nghiệp, vì: Sự phức tạp trong quan hệ cung cầu, tính cạnh tranh ngày
càng gay gắt, sự bất lực của ngời mua và ngời bán trong việc nắm bắt nhanh,
nhạy và chính xác các thông tin trên thị trờng. ngời môi giới có 3 chức năng
cơ bản sau: Giúp ngời bán tìm đợc ngời mua và ngợc lại, giúp cách thức mua
bán, thực hiện mua bán uỷ thác.
Các loại kênh tiêu thụ:
Kênh ngắn:
Sơ đồ 1: Kênh trực tiếp và kênh một cấp
10
Nhà sản xuất Ngời tiêu dùng
Ngời bán lẻ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Kênh1: kênh này doanh nghiệp trực tiếp đa hàng tới ngời tiêu dùng cuối
cùng không qua khâu trung gian.
Ưu điểm: đẩy nhanh tốc độ lu thông hàng hoá, đảm bảo sự chặt chẽ
trong giao tiếp doanh nghiệp về khách hàng. Doanh nghiệp đợc lợi nhuận cao
trên một đơn vị sản phẩm.
Nh ợc điểm: Hạn chế về trình độ chuyên môn hoá, tổ chức quản lý về
kênh phân phối phức tạp, chu chuyển vốn chậm, nhân lực phân tán, kênh này
chiếm tỷ trọng nhỏ, quan hệ thị trờng hẹp.
Kênh 2: Kênh rút gọn hay kênh trực tiếp, kênh này sử dụng một trong
một số trờng hợp, trình độ chuyên môn hoá và quy mô của công ty bán lẻ cho
phép xác lập quan hệ trao đổi trực tiếp với ngời sản xuất trên cơ sở tự đảm
nhận chức năng tự buôn bán.
Ưu điểm: Một mặt vẫn phát huy u thế của loại hình kênh trực tuyến. Mặt
khác giải phóng cho sản xuất chức năng lu thông để chuyên môn hoá và
phát triển năng lực sản xuất của mình, đảm bảo trình độ xã hội hoá sản xuất
cao hơn và ổn định. Hợp lý trong tiếp thị các hàng hoá đợc sản xuất.
Nh ợc điểm: Cha phát huy đợc tính u việt của phân công lao động xã hội.
Vì vậy loại hình này chỉ áp dụng có hiệu qủa với một số đơn vị bán lẻ thích
hợp cho một số mặt hàng đơn giản xác định trong khoảng cách không gian
so với điểm phát nguồn hàng phục vụ cho một số nhu câu thờng xuyên ổn
định của ngời tiêu dùng xác định.
- Kích thích tiêu dùng khuyến mãi: Băng phơng pháp bán hàng nh trả góp
thờng đợc áp dụng với những mặt hàng có giá trị nh ô tô, xe máy, nhà
ngoài ra còn các đợ giải thởng lớn nhằm kích thích tiêu dùng.
Tổ chức dịch vụ sau bán hàng:
Ngày nay trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hoạt động này đợc nhiều nhà
doanh nghiệp quan tâm đặc biệt là những sản phẩm có tính năng kỹ thuật
cao. Nó không chỉ tạo ra sự yên tâm cho khách hàng khi sử dụng mà còn góp
phần kéo dài tuổi thọ cho sản phẩm nh dịch vụ bảo hành, sửa chữa sản phẩm,
đóng gói, hớng dẫn sử dụng sản phẩm cho khách hàng.
Kênh dài:
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ2: Kênh hai cấp và kênh ba cấp
Kênh 3: Đây là loại kênh phổ biến nhất trong các kênh phân phối hàng
hoá. kênh này thờng đợc sử dụng đối với những mặt hàng có một số ngời
sản xuất ở một nơi nhng tiêu thụ ở nhiều nơi. Đặc điểm là những ngời sản
xuất có quy mô lớn, lợng hàng hoá lớn đợc sản xuất phục vụ cho nhu cầu của
một địa phơng hay vùng.
Ưu điểm: Do quan hệ mua bán theo từng khâu nên tổ chức kinh doanh
chặt chẽ, vòng quay vốn nhanh. ngời sản xuất và ngời trung gian do chuyên
môn hoá nên có điều kiện nâng cao chất lợng lao động, khả năng thoả mãn
nhu cầu thị trờng với số lợng đa dạng về chủng loại và chất lợng.
Nh ợc điểm: Do kênh dài nên rủi ro cao, việc điều hành kiểm soát tiêu thụ
khó khăn, thời gian lu thông dài, chi phí iêu thụ ảnh hởng đến giá cả và chất
lợng hàng hoá.
Kênh 4: Mở rộng của kênh 3 thêm ngời môi giới, kênh này thờng đợc sử
dụng với mặt hàng thị trờng mới.
Các yếu tố cấu thành mạng lới bán hàng có quan hệ tơng tác với nhau.
b. Xác định giá sản phẩm.
Định giá bán sản phẩm là vấn đề hết sức quan trọng có ảnh hởng trực
tiếp đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy
sau việc điều tra nhu cầu thị trờng, xác định chiến lợc sản phẩm ta cần phải
xây dựng chiến lợc giá cả nhằm đa ra mục tiêu và căn cứ đánh giá. Mục tiêu
trong chiến lợc giá cả có thể cho là hai nhóm sau:
Nhóm thứ nhất:
- Liên quan tới lợi nhuận, có thể là tối đa hoá lợi nhuận, hoặc duy trì mức lợi
nhuận đang đạt đợc.
12
Nhà sản
xuất
Ngời môi
giới
Ngời bán
buôn
Ngời bán
lẻ
Ngời tiêu
dùng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nhóm thứ hai:
- Liên quan tới vị trí của doanh nghiệp trên thị trờng và trớc các đối thủ cạnh
tranh. Căn cứ chủ yếu để xây dựng giá cả là:
- Phải căn cứ vào pháp luật, yêu sách của Chính phủ, chế độ quản lý và Ban
vật giá Nhà nớc. Phải dựa vào chi phí sản xuất và giá thành đơn vị sản phẩm
trong dự toán.
- Phải xây dựng phù hợp với đặc điểm thị trờng cạnh tranh, các điều kiện
thời gian và không gian cụ thể.
Ngoài ra chiến lợc giá còn phải xác định một cái khung để hớng dẫn các
quá trình lập các mức giá cụ thể cho từng sản phẩm.
Do phụ thuộc nhiều yếu tố nên khi ấn định giá ngoài các tính toán cụ thể
còn phải có sách lợc ứng xử cụ thể cho phù hợp với từng hoàn cảnh và điều
kiện của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Nói một cách khác khi ấn định
mức giá các doanh nghiệp còn phải xét tới một loạt các khía cạnh nh:
Một là:
+ Thu nhập dân c
+ Quy mô thị trờng
+ Sở thích và tập quán tiêu dùng
+Khả năng cung cấp của các nhà cạnh tranh
+ Chính sách phát triển kinh tế của Nhà nớc.
Hai là:
+Sức hấp dẫn của các sản phẩm với khách hàng cao hay thấp.
Ba là:
+ Hình thái thị thái thị trờng mà các doanh nghiệp sẽ bán sản phẩm của
mình (thị trờng độc quyền thị trờng cạnh tranh hoàn hảo, hay thị trờng vừa
độc quyền, vừa cạnh tranh).
Nói chung, xác định mức giá sản phẩm phù hợp cho mọi đối tợng khách
hàng của từng vùng là nội dung rất quan trọng trong việc thúc đẩy công tác
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Vì trên thị trờng sau kh xác định mặt
hàng, loại sản phẩm cần mua sắm thì yếu tố gía cả đóng vai trò chủ chốt
quyết định hành vi mua sắm của khách hàng theo quy luật cung cầu, giá càng
giảm thì khối lợng cầu càng tăng và ngợc lại. Vấn đề đặt ra là làm sao thiết
lập đợc mức giá phù hợp với từng khách hàng, đảm bảo cho việc bù đắp chi
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phí và có lãi là yếu tố hết sức quan trọng đòi hỏi sự quan sát nhậy bén, có óc
sáng tạo tìm hiểu sâu sắc thị trờng của các cán bộ làm nghiên cứu thị trờng
nói chung và cán bộ làm giá cả của từng doanh nghiệp nói riêng.
c. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Đây là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động bán
hàng là hoạt động mang tính nghệ thuật tác động đến tâm lý ngời mua, nhằm
mục đích bán đợc hàng nhiều nhất, hiệu quả bán hàn cao nhất. Quá trình tác
động tâm lý khách hàng gồm nhiều giai đoạn.
Diễn biến này chỉ có xuôi không có ngợc lại. Vì vậy mà tác động của ng-
ời mua đến ngời mua cũng theo trình tự đó. Nghệ thuật của ngời bán là có thể
làm chủ đợc quá trình bán hay không. Quá trình tiêu thụ sản phẩm của các
doanh nghiệp có các bớc sau:
b1. Đàm phán ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm. Trong nền kinh tế thị
trờng hợp đồng tiêu thụ sản phẩm không chỉ là căn cứ pháp lý quy định trach
nhiệm, quyền hạn mỗi bên tham gia hợp đồng, mà còn là căn cứ quan trọng
để doanh nghiệp lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ đạt độ an toàn cao.
b2. Tổ chức kho thành phẩm:
Đây là công việc đảm bảo quản lý chất lợng sản phẩm trớc khi đem tiêu
thụ sản phẩm. Do đó phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tổ chức kho
thành phẩm của Nhà nớc hoặc doanh nghiệp, tránh tình trạng hao hụt, mất
mát, suy giảm chất lợng. Chuẩn bị kho phải đúng với sản phẩm,căn cứ đặc
điểm kỹ thuật của sản phẩm, đủ lợng hàng dự trữ trong kỳ, thuận tiện cho
chuyên chở và chi phí kho là ít nhất.
b3. Tổ chức vận chuyển hàng hoá theo phơng thức vận tải thich hợp và
có hiệu quả.
b4. Các phơng thức thanh toán và giao nhận hàng hoá.
*Các ph ơng thức giao nhận chủ yếu.
- Giao nhận tại xởng: ngời bán phải đặt hàng dới quyền định đoạt của ngời
mua trong thời hạn và địa điểm hợp lý theo quy định, còn ngời mua phải
nhận hàng tại xởng của ngời bán và chịu mọi rủi ro phí tổn vận chuyển.
- Giao nhận cho ngời vận tải: Phơng thức này áp dụng quen thuộc trong xuất
nhạp khẩu với khách hàng ký hợp đồng thờng xuyên, làm soa cho ngời nhận
hàng đúng chất lợng, thời gian và địa điểm quy định.
14
Quy luật quan hệ sản xuất
A. lời nói đầu
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất là qui luật hết sức phổ biến trong công cuộc xây dựng
đất nớc của mỗi quốc gia. Sự mâu thuẫn hay phù hợp giữa quan hệ sản xuất và
lực lợng sản xuất đều có ảnh hởng rất lớn tơí nền kinh tế. Sự tổng hoà mối
quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền kinh tế có
lực lợng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát triển.
Nói cách khác Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ của lực lợng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một nền kinh tế.
Do vậy, nghiên cứu về quy luật này sẽ giúp cho mỗi sinh viên chúng ta,
đặc biệt là sinh viên khối kinh tế, có thêm những hiểu biết ban đầu và sâu sắc
hơn về sự phát triển của nớc ta cũng nh trên thế giới; hiểu đợc quy luật vận
động của nền kinh tế từ đó có thể góp một phần nhỏ bé của mình vào sự
nghiệp xây dựng nớc nhà sau này.
Do thời gian còn hạn hẹp và sự hiểu biết các vấn đề cha sâu sắc, chắc
chắn bài viết còn có rất nhiều thiếu sót. Bởi vậy em mong đợc sự chỉ bảo, phê
phán của thầy để có thể sửa chữa, khắc phục những mặt kiến thức còn yếu của
mình và để bài viết có thể hoàn thiện hơn.
B. nội dung
1
I. đặt vấn đề
Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử phơng thức sản
xuất biểu thị cách thức con ngời thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những
giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài ngời. Dới sự vận động của lịch sử
loài ngời, cũng nh sự vận động của mỗi xã hội cụ thể, sự thay đổi về phơng
thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tính chất cách mạng. Trong sự
thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội đợc chuyển sang một chất mới. Ph-
ơng thức sản xuất là cái mà nhờ nó ngời ta có thể phân biệt đợc sự khác nhau
của những thời đại kinh tế khác nhau. Mà phơng thức sản xuất chính là sự
thống nhất giữa lực lợng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất
tơng ứng. đo cũng chính là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Do vậy, quy luật trên trớc hết là quy luật kinh tế nhng hơn thế nữa nó
con là quy luật cơ bản nhất của toàn bộ đời sống xã hội của lịch sử nhân loại
bởi vì nó là quy luật của bản thân phơng thức sản xuất. Sự tác động của quy
luật này dẫn tới sự thay đổi của phơng thức sản xuất và kéo theo sự thay đôỉ
cua toàn bộ đời sống xã hội.
Với những lý do trên, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất có ý nghĩa hết sức to lớn. Tuy
nhiên, việc nắm bắt đợc quy luật này không phải là đơn giản, nhận biết đợc
một quan hệ sản xuất có phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực l-
ợng sản xuất hay không hoàn toàn phải phụ thuộc vào thực tiễn của sản xuất
và kinh nghiệm bản thân. Với những chính sách, đờng lối và chủ trơng đúng
đắn, nắm bắt tốt quy luật của đảng và nhà nớc, nền kinh tế, đặc biệt là kinh
nhiều thành phần đã phát triển mạnh mẽ, đa nớc ta từ một nớc nông nghiệp lạc
hậu phát triển thành nớc sản xuất nông nghiệp tiên tiến; góp phần đẩy nhanh
nền kinh tế nớc nhà đi sang một hớng khác, sánh vai cùng các nớc trong khu
vực và trên thế giới.
II- giải quyết vấn đề
2
Khái niệm về lực lợng sản xuất quan hệ sản xuất và
quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
A/ Khái niệm về lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất:
1/ Lực l ợng sản xuất:
Để tiến hành sản xuất thì con ngời phải dùng các yếu tố vật chất và kỹ
thuật nhất định. Tổng thể các nhân tố đó là lực lợng sản xuất. Lực lợng sản
xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên. Nghĩa là trong quá
trình thực hiện sản xuất xã hội con ngời trinh phục tự nhiên bằng các sức
mạnh hiện thực của mình suức mạnh đó đợc chủ nghĩa duy vật lịch sử khái
quát trong khái niệm lực lợng sản xuất. Trình độ lực lợng sản xuất biểu hiện
trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời. Lực lợng sản xuất nói lên năng lực
thực tế của con ngời trong quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm
bảo sự phát triển của con ngời.
Lực lợng sản xuất bao gồm ngời lao động và kỹ năng lao động và t liệu
sản xuất. Trong quá trình sản xuất công cụ lao động tác động vào đối tợng lao
động để tạo ra của cải vật chất thì t liệu lao động đợc hoàn thiện nhằm đạt đợc
năng suất lao động cao. Còn trong t liệu lao động tức là tất cả các yếu tố vật
chất mà con ngời sử dụng để tác động vào đối tợng lao động thì công cụ lao
động là yếu tố quan trọng nhất linh hoạt nhất. Bởi vậy khi công cụ lao động đã
đạt đến trình độ tin học hoá đợc tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan
trọng. Trong mọi thời đại công cụ sản xuất luôn là yếu tố đông nhất của lực l-
ợng sản xuất. Chính sự chuyển đổi cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó
đã gây lên những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ t liệu sản xuất. Trình độ phát
triển công cụ lao động là thớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời.
Tuy nhiên LêNin viết: Lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là
công nhân, ngời lao động có thể cói yếu tố quan trọng nhất trong lực lợng
sản xuất chính là con ngời. Trong thời đại ngày nay khoa học đã phát triển tới
3
mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất
và đời sống nó đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Nó vừa là ngành sản
xuất riêng vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lợng sản xuất đem lại
thay đổi về chất cho lực lợng sản xuất.
Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất
nó hoàn toàn có thể coi là đặc trng cho lực lợng sản xuất hiện đại.
2/ Khái niệm về quan hệ sản xuất:
Để tiến hành quá trình sản xuất nhất định con ngời phải có mối quan hệ
với nhau. Tổng thể những mối quan hệ này gọi là quan hệ sản xuất. Nói cách
khác quan hệ sản xuất là quan hệ giữa ngời với ngời trong sản xuất.
Trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình con ngời dù muốn hay
không cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi
hoạt động sản xuất cũng nh kết quả lao động những quan hệ sản xuất này
mang tính tất yếu. Nh vậy quan hệ sản xuất do con ngời tạo ra song nó đợc
hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai.
Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính
quy luật tất yếu, khách quan của sự vận động xã hội.
Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc vào
ý muốn của con ngời, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất
của đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lợng sản
xuất và là cơ sở của đời sống xã hội.
Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:
- Quan hệ sở hữu về t liêu sản xuất tức là quan hệ giữa ngời với t liệu
sản xuất. Tính chất của quan hệ sản xuất trớc hết đợc quy định bởi quan hệ sở
hữu đối với t liệu sản xuất Biểu hiện thành chế độ sở hữu. trong hệ thống
các quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất có vai trò quyết định
đối với các quan hệ xã hội khác.
Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài ngời đã từng trải qua, lịch sử
đã đợc chứng kiến sự tồn tại của 2 loại hình sở hữu cơ bản đối với t liệu sản
4
xuất: sở hữu t nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu công cộng là loại hình mà
trong đó t liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của cộng đồng. Do t liệu sản
xuất là tài sản chung của cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất
và trong đời sống xã hội nói chung trở thành quan hệ hợp tác giúp đỡ nhau.
Ngợc lại trong các chế độ t hữu do t liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số ng-
ời nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về một số ít ngời các
quan hệ xã hội do vậy bất bình đẳng.
- Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ giuã
ngời với ngời trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải. Trong hệ thống
các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là các quan
hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hớng mỗi
nền sản xuất cụ thể đi ngợc lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến
dạng quan hệ sở hữu ảnh hởng tiêu cực đến kinh tế xã hội.
Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm tức là quan hệ chặt trẽ với nhau
cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa t liệu sản xuất để làm
cho chúng không ngừng đợc tăng trởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng
cao phúc lợi cho ngời lao động. Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản
lý,trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm
lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động
của toàn bộ nền kinh tế. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp
điệu của sản xuất nhng ngợc lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự
phát triển của xã hội
Nêu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính
chất sở hữu quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác trong mỗi
hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ
vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng
những chung không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của
kinh tế xã hội mới.
5
B/ Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất:
1/ Tính chất và trình độ của lực l ợng sản xuất:
a/ Tính chất:
Tính chất của lực lợng sản xuất là tính chất của tu liệu sản xuất và lao
động. Khi nền sản xuất đợc thực hiện với những công cụ ở trình độ phổ thông,
lực lợng sản xuất chủ yếu mang tính chất cá nhân. Khi trình độ sản xuất đạt
tới trình độ cơ khí hoá, lực lợng sản xuất đòi hỏi phải đợc vận động cho sự hợp
tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá. Tính chất tự cấp tự túc cô lập
của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải đợc thay thế bởi tính chất xã hội hoá.
b/ Trình độ của lực l ợng sản xuất:
Lực lợng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự phát triển
của phơng thức sản xuất: Trình độ của lực lợng sản xuất trong từng giai đoạn
của lịch sử loài ngời thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài ngời trong
giai đoạn đó. Khái niệm trình độ của lực lợng sản xuất nói lên khả năng của
con ngời thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến
tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình. Trình độ lực l-
ợng sản xuất thể hiện ở: Trình độ công cụ lao động, trình độ quản lý xã hội
trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng
của con ngời và trình độ phân công lao động.
Trên thực tế tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất không tách biệt
nhau
B/ Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất:
Quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất là hai mặt của phơng thức sản
xuất, sự tác động lẫn nhau giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu
hiên mối quan hệ mang tính chất biện chứng. Chính sự thống nhất và tác động
giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất đã hình thành nên quy luật về sự
6
phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trìng độ phát triển của lực lợng
sản xuất.
Lực lợng sản xuất là nhân tố thờng xuyên biến đổi và phát triển. Ngợc
lại quan hệ sản xuất thờng có tính ổn định trong một thời gian dài.
Sự biến đội của lực lợng sản xuất có nhiều nguyên nhân:
- Bản thân ngời lao động thì những kỹ năng và kinh nghiệm không
ngừng tích luỹ và tăng lên.
- Bản thân tri thức khoa học trí thức công nghệ trở thành lực lợng sản
xuất trực tiếp.
- Sự ổn định của quan hệ sản xuất là nhu cầu khách quan để có thể sản
xuất đợc.
Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lợng sản xuất đến một giới hạn
nhất định sẽ đặt ra nhu cầu xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và hiện có. Việc xoá
bỏ quan hệ sản xuất cũ thay nó bằng một quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa
là diệt vong cả một phơng thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phơng
thức sản xuất mới. Sự xoá bỏ các hình thức quan hệ sản xuất hiện có không
phải là tự thân mà phải thông qua một phơng thức chính trị và pháp quyền mà
phơng thức pháp quyền là trực tiếp. Những quan hệ sản xuất cũ và hiện có từ
chỗ là hình thức kinh tế cần thiết để đảm bảo duy trì khai thác, phát triển của
lực lợng sản xuất giờ đây trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó
nh CácMác đã nhận định Từ một giai đoạn phát triển nào đó của chúng các
lực lợng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất
hiện có trong đó từ trớc đến nay các lực lợng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển.
Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lợng sản xuất những quan hệ ấy
trở thàng những xiềng xích của các lực lợng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại
một cuộc Cách mạng xã hộiĐó cũng chính là nội dung quy luật về sự phù
hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lợng sản
xuất.
7
Thực tiễn cho thấy rằng lực lợng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có
một quan hệ sản xuất hợp lý đồng bộ phù hợp với nó. quan hệ sản xuất lạc hậu
hơn hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của lực
lợng sản xuất. Khi mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất đã
bộc lộ gay gắt đòi hỏi phải giải quyết nhng còn lực lợng sản xuất ngời không
phát hiện đợc cũng nh mâu thuẫn đợc phát hiện mà không giải quyết đợc hoặc
giải quyết một cách sai lầm thì tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở
thành nhân tố phá hoại đối với lực lợng sản xuất.
Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta không nên tuyệt đối hoá vai trò của
lực lợng sản xuất mà bỏ qua sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với
nó khi giữa chúng có sự phù hợp. Đôi khi sự phát triển chệch hớng của quy
luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất là do yếu tố chủ quan, chứ không phải do tính chất đặc thù của quy
luật đó.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của lực l-
ợng sản xuất đối với quan hệ sản xuất song nó cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản
xuất bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tơng đối với lực lợng sản xuất. Quan
hệ sản xuất tác động trở lại lực lợng sản xuất , nó là yếu tố quyết định là tiền
đề cho lực lợng sản xuất phát triển khi nó phù hợp với trình độ phát triển của
lực lợng sản xuất. Nó làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu bớc đi và tạo quy mô thích
hợp cho lực lợng sản xuất hoạt động, cũng nh đảm bảo lợi ích chính đáng cho
ngời lao động phát huy tính tích cực sáng tạo cho con ngời là nhân tố quan
trọng và quyết định trong lực lợng sản xuất.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lợng
sản xuất vì nó quyết định mục đích sản xuất, quy định hệ thống quản lý sản
xuất và quản lý xã hội quy định phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà
ngời lao động đợc hởng. Do đó nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc
hạn chế sự phát triển của công cụ sản xuất áp dụng thành tựu khoa học và sản
xuất hợp tác phân công lao động.
8
C/ Sự vận dụng quy luật vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam:
Sự nghiệp đã đổi mới của Việt Nam đợc bắt đầu ngay từ giữa những
năm 80 và đợc triển khai mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực từ đó đến nay. Quá
trình đổi mới đã đa lại nhiều thành tựu to lớn, nhng đồng thời cũng đặt ra
nhiều lý luận quan trọng mà việc áp dụng quy luật quan hệ sản xuất phụ thuộc
vào tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất vào việc giải quyết
chúng một cách đúng đắn sẽ là cơ sở hết sức cần thiết cho việc tiếp tục hoạch
định và đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới, cũng nh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam.
Việt Nam đã xây dựng chủ nghĩa xã hội đợc hơn 30 năm ở miền Bắc và
hơn 10 năm trên phạm vi toàn quốc nếu tính đến thời điểm bắt đầu đổi mới.
Ngôi nhà xã hội chủ nghĩa mà chúng ta muốn xây dựng có thể có nhiều đặc tr-
ng, nhng có hai đặc trng chất lợng quan trọng nhất mà dứt khoát chúng ta phải
đặt đến, đó là vừa giàu có hơn, vừa công bằng hơn so với trong chủ nghĩa t
bản. Tuy nhiên trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội thì nền kinh tế sản xuất
của nớc ta lại chậm phát triển, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Sự
khó khăn này có thể có nhiều nguyên nhân, nhng có lẽ một trong những
nguyên nhân quan trọng nhất là: không nắm vững quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Nghị quyết Đại hội VIII đã chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm:
Nền kinh tế phát triển cha vững chắc, hiệu quả và sức mạnh tranh chấp.
Nhịp độ tăng trởng tổng sản phẩm trong nớc (GDP) nhịp độ tăng giá trị sản
xuất nông nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu không đạt chỉ
tiêu đề ra. Nhìn chung, năng xuất lao động thấp, chất lợng sản phẩm cha tốt,
giá thành cao. Nhiều sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp
thiếu thị trờng tiêu thụ trong cả nớc và nớc ngoài. Hệ thống tài chính-ngân
hàng còn yếi kém và thiếu lành mạnh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Cơ
cấu đầu t cha hợp lý, đầu t còn phân tán, lãng phí và thất thoát nhiều. Nhịp độ
9
thu hút đầu t trực tiếp của nớc ngoài giảm, công tác quản lý, điều hành công
tác này còn nhiều vớng mắc và thiếu sót. Quan hệ một số mặt cha phù hợp.
Kinh tế nhà nớc cha đợc củng cố tơng xứng với vai trò chỉ đạo, cha có chuyển
biến đáng kể trong việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nớc.
Một số vấn đề văn hoá-xã hội bức xúc và gay gắt chậm đợc giải quyết.
Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và nông thôn còn ở mức cao. Các hoạt động khoa
học và công nghệ cha đợc đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Cơ chế chính sách không đồng bộ và cha tạo động lực mạnh để phát
triển. Một số cơ chế, chính sách còn thiếu, cha nhất quán, cha sát với cuộc
sống, thiếu tính khả thi. Nhiều cấp, ngành cha thay thế, sửa đổi những quy
định về quản lý nhà nớc không còn phù hợp, cha bổ sung những cơ chế, chính
sách mới có tác dụng giải phóng mạnh mẽ lực lợng sản xuất. Trong thời kỳ
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền t bản chủ nghĩa, nhà nớc ta
đã không thấy rõ bớc đi có tính quy luật trên con đờng tiến lên chủ nghĩa xã
hội nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế
quốc dân và xét về thực chất là theo đờng lốiđẩy mạnh cải tạo xã hội chủ
nghĩa, đa quan hệ sản xuất đi trớc mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển.
điều đó có nghĩa là đa quan hệ sản xuất đi trớc để tạo địa bàn rộng rãi, thúc
đẩy lực lợng sản xuất phát triển. Điều đó là hoàn toàn mâu thuẫn với quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. để
khắc phục những mâu thuẫn có thể phát sinh đòi hỏi phải thiết lập quan hệ sản
xuất mới với những hình thức và bớc đi phù hợp và trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất.Những chính sách mới của đảng và nhà nớc đã thúc đẩy nền
kinh tế nớc ta phát triển một cách mạnh mẽ.Sự thúc đẩy nền kinh tế nhiều
thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa đã đa nền kinh tế nớc ta sang một
bớc đi mới. Mọi ngời đợc tự do kinh doanh buôn bán, các doanh nghiệp kinh
doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trớc pháp luật Tất
cả đều nhằm vào mục tiêu duy nhất là thúc đẩy nền kinh tế nớc nhà.
10
Để làm rõ hơn về nền kinh tế nớc ta trong thời kỳ quá độ, chúng ta sẽ đi
phân tích nền sản xuất nông nghiệp trong thời gian này. tại đại hội lần thứ VI,
Đảng ta đã nhận định:" Lực l ợng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trờng
hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không
đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ của lực lợng sản xuất
( Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI.
Nxb sự thật, HN, 1987, tr.57)Trong quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội phải kể
đến yếu tố chủ quan của việc đảng lãnh đạo, Nhà nớc phát động tính tích cực
xã hội của quần chúng bằng những lợi ích vật chất và tinh thần yêu nớc vốn có
của họ. Tuy nhiên, theo nhận định trên của đảng, ta thấy rằng, không thể cho
rằng những yếu tố tiên tiến của quan hệ sản xuất mãi là tiền đề sự thúc đẩy
phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất. Chúng chỉ tác động tích
cực trong một thời gian ngắn và cuối cùng, vẫn phải tuân thủ quy luật quan hệ
sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Thực trạng nền sản xuất nông nghiệp của nớc ta trong thời gian chuẩn
bị vào những năm đầu bớc vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn đã làm rõ nhận định trên của đảng. Tại thời điểm đó nền
sản xuất nông nghiệp không ổn định, nhiều nơi, nhiều vùng nông thôn bị đói
kém. Khi đó có ngời cho rằng, nguyên nhân sản xuất chậm phát triển là do
giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất có mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó thể
hiện giữa một bên là yêu cầu phát triển hơn nữa của lực lợng sản xuất theo h-
ớng tất yếu chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn với một bên là chế độ sở
hữu phân tán. Theo một số nhà nhận định, đây là mâu thuẫn vốn có và mâu
thuẫn là phổ biến trong các nền sản xuất. Khi nền sản xuất xã hội phát triển
đến trình độ cao thì tự bản thân chế độ t hữu nhỏ không thể nào tồn tại nh cũ,
nó buộc phải thay đổi. Nhìn lại quá trình chỉ đạo sản xuất nông nghiệp ở nớc
ta trớc đây Đảng ta đã rút ra đợc sự cần thiết của quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Tại Đại hội IX Đảng ta nhận định: "Cần phải nhân rộng mô hình hợp
tác, liên kết Công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nớc và kinh tế hộ
11
nông thôn, phát triển các loại hình trang trại quy mô phù hợp trên từng địa
bàn" (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr. 32). Trong sản xuất nông nghiệp,
sự đa dạng của các thành phần kinh tế đã tạo ra cơ chế quản lý với nhiều hình
thức sản xuất nông nghiệp mới phù hợp với những quan điểm đổi mới không
ngừng của Đảng và nhờ đó, tạo ra sự biến đổi mới trong các Hợp tác xã nông
nghiệp trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất. Điều đó càng khẳng định ý nghĩa
to lớn của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất.
Nhng dựa vào tiêu chuẩn nào để khẳng định rằng quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Trớc hết sự phù hợp đó thể
hiện ở chỗ, hiệu quả sản xuất ngày càng cao (năm sau cao hơn năm trớc), mặc
dù đất bị thiên tai nhiều bề và ít nhiều chịu ảnh hởng của tình trạng suy thoái
kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Điều quan trọng nữa, khi nói quan hệ
sản xuất phù hợp với lực lợng sản xuất không thể không nhìn vào đời sống của
nông dân, thực tế cho thế qua 15 năm thực hiện đờng lối đổi mới do Đảng đề
ra, đời sống của nông dân từng bớc đợc nâng cao, điều kiện nhà ở và học tập
của con em nông dân cũng khá hơn trớc.
Nh vậy thực trạng nền kinh tế có phát triển không? Lực lợng sản xuất
có phát triển không đó chính là tiêu thức để đánh giá sự phù hợp của quan hệ
sản xuất vào tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Một quy luật có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế của mỗi quốc gia.
III/ Kết luận và giải pháp
1/ Kết luận:
Quy luật của quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất là quy luật hết sức phổ biến. Tuy nhiên không phải
bất cứ lúc nào cũng có sự phù hợp đó. Do vậy, phải nắm bắt tốt quy chúng ta
có thể áp dụng vào từng trờng hợp cụ thể. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp
12
với trình độ lực lợng sản xuất còn là quy luật phổ biến trong toàn bộ tiến trình
lịch sử nhân loại. Sự thay thế phát triển đi lên của lịch sử loài ngời từ chế độ
công xã nguyên thuỷ qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ
t bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tơng lai là do sự tác động của hệ thống
các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất là quy luật cơ bản nhất. Lực lợng sản xuất là
nhân tố thờng xuyên biến đổi, ngợc lại quan hệ sản xuất lại thờng có tính ổn
định song sự ổn định đó chỉ là tạm thời và cũng cần có sự thay đổi cho phù
hợp. Nếu quan hệ sản xuất không có những sự thay đổi cho phù hợp thì nó sẽ
kìm hãm sự phát triển của sản xuất.
Nh vậy, trong việc xác lập hoàn thiện, thay đổi quan hệ sản xuất cần
phải căn cứ vào thực trạng của các lực lợng sản xuất hiện có về mặt tính chất
và trình độ của chúng (đây là cơ sở lý luận trực tiếp của việc xác định cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta hiện nay của quá trình cải cách của các
doanh nghiệp nhà nớc hiện nay).
2/ Giải pháp:
Cải tạo xã hội chủ nghĩa phải luôn luôn thấu suốt đặc điểm của quá
trình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa là quan hệ sản xuất
và lực lợng sản xuất luôn luôn gắn bó với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ
quy mô nhỏ lên quy mô lớn. Trên mỗi bớc đi phải đẩy mạnh xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật, tạo ra lực lợng sản xuất mới trên cơ sở đó tiếp tục đa quan hệ
sản xuất lên hình thức, quy mô thích hợp để cho lực lợng sản xuất phát triển.
Tại Đại hội IX Đảng ta khẳng định: " Cần phải" nhân rộng mô hình hợp
tác, liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nớc và kinh tế hộ
nông thôn, phát triển các loại hình trang trại với quy mô phù hợp trên từng địa
bàn những hình thức kinh tế hộ nông dân ngày càng đợc mở rộng, các hình
thái kinh tế hợp tác ở nông thôn, kinh tế trang trại, mở mang nhanh công
nghiệp chế biến nông sản theo nhiều trình độ quy mô công nghệ.
13
Với kiến thức của một sinh viên em chỉ phần nào đề cập đợc một số
khía cạnh của vấn đề. Em mong có sự góp ý của thầy cô nhằm giúp em hiểu rõ
hơn về vấn đề này. Cuối cùng em xin cam kết tất cả những gì em viết trên đây
là những hiểu biết của em. Những phần tham khảo đều đợc chú thích ở dới.
Em xin cảm ơn thầy Trần Ngọc Linh đã giúp em hoàn thành tiểu luận này.
14
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất là qui luật hết sức phổ biến trong công cuộc xây dựng
đất nớc của mỗi quốc gia. Sự mâu thuẫn hay phù hợp giữa quan hệ sản xuất và
lực lợng sản xuất đều có ảnh hởng rất lớn tơí nền kinh tế. Sự tổng hoà mối
quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền kinh tế có
lực lợng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát triển.
Nói cách khác Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ của lực lợng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một nền kinh tế.
Do vậy, nghiên cứu về quy luật này sẽ giúp cho mỗi sinh viên chúng ta,
đặc biệt là sinh viên khối kinh tế, có thêm những hiểu biết ban đầu và sâu sắc
hơn về sự phát triển của nớc ta cũng nh trên thế giới; hiểu đợc quy luật vận
động của nền kinh tế từ đó có thể góp một phần nhỏ bé của mình vào sự
nghiệp xây dựng nớc nhà sau này.
Do thời gian còn hạn hẹp và sự hiểu biết các vấn đề cha sâu sắc, chắc
chắn bài viết còn có rất nhiều thiếu sót. Bởi vậy em mong đợc sự chỉ bảo, phê
phán của thầy để có thể sửa chữa, khắc phục những mặt kiến thức còn yếu của
mình và để bài viết có thể hoàn thiện hơn.
B. nội dung
1
I. đặt vấn đề
Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử phơng thức sản
xuất biểu thị cách thức con ngời thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những
giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài ngời. Dới sự vận động của lịch sử
loài ngời, cũng nh sự vận động của mỗi xã hội cụ thể, sự thay đổi về phơng
thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tính chất cách mạng. Trong sự
thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội đợc chuyển sang một chất mới. Ph-
ơng thức sản xuất là cái mà nhờ nó ngời ta có thể phân biệt đợc sự khác nhau
của những thời đại kinh tế khác nhau. Mà phơng thức sản xuất chính là sự
thống nhất giữa lực lợng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất
tơng ứng. đo cũng chính là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Do vậy, quy luật trên trớc hết là quy luật kinh tế nhng hơn thế nữa nó
con là quy luật cơ bản nhất của toàn bộ đời sống xã hội của lịch sử nhân loại
bởi vì nó là quy luật của bản thân phơng thức sản xuất. Sự tác động của quy
luật này dẫn tới sự thay đổi của phơng thức sản xuất và kéo theo sự thay đôỉ
cua toàn bộ đời sống xã hội.
Với những lý do trên, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất có ý nghĩa hết sức to lớn. Tuy
nhiên, việc nắm bắt đợc quy luật này không phải là đơn giản, nhận biết đợc
một quan hệ sản xuất có phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực l-
ợng sản xuất hay không hoàn toàn phải phụ thuộc vào thực tiễn của sản xuất
và kinh nghiệm bản thân. Với những chính sách, đờng lối và chủ trơng đúng
đắn, nắm bắt tốt quy luật của đảng và nhà nớc, nền kinh tế, đặc biệt là kinh
nhiều thành phần đã phát triển mạnh mẽ, đa nớc ta từ một nớc nông nghiệp lạc
hậu phát triển thành nớc sản xuất nông nghiệp tiên tiến; góp phần đẩy nhanh
nền kinh tế nớc nhà đi sang một hớng khác, sánh vai cùng các nớc trong khu
vực và trên thế giới.
II- giải quyết vấn đề
2
Khái niệm về lực lợng sản xuất quan hệ sản xuất và
quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
A/ Khái niệm về lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất:
1/ Lực l ợng sản xuất:
Để tiến hành sản xuất thì con ngời phải dùng các yếu tố vật chất và kỹ
thuật nhất định. Tổng thể các nhân tố đó là lực lợng sản xuất. Lực lợng sản
xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên. Nghĩa là trong quá
trình thực hiện sản xuất xã hội con ngời trinh phục tự nhiên bằng các sức
mạnh hiện thực của mình suức mạnh đó đợc chủ nghĩa duy vật lịch sử khái
quát trong khái niệm lực lợng sản xuất. Trình độ lực lợng sản xuất biểu hiện
trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời. Lực lợng sản xuất nói lên năng lực
thực tế của con ngời trong quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm
bảo sự phát triển của con ngời.
Lực lợng sản xuất bao gồm ngời lao động và kỹ năng lao động và t liệu
sản xuất. Trong quá trình sản xuất công cụ lao động tác động vào đối tợng lao
động để tạo ra của cải vật chất thì t liệu lao động đợc hoàn thiện nhằm đạt đợc
năng suất lao động cao. Còn trong t liệu lao động tức là tất cả các yếu tố vật
chất mà con ngời sử dụng để tác động vào đối tợng lao động thì công cụ lao
động là yếu tố quan trọng nhất linh hoạt nhất. Bởi vậy khi công cụ lao động đã
đạt đến trình độ tin học hoá đợc tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan
trọng. Trong mọi thời đại công cụ sản xuất luôn là yếu tố đông nhất của lực l-
ợng sản xuất. Chính sự chuyển đổi cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó
đã gây lên những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ t liệu sản xuất. Trình độ phát
triển công cụ lao động là thớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời.
Tuy nhiên LêNin viết: Lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là
công nhân, ngời lao động có thể cói yếu tố quan trọng nhất trong lực lợng
sản xuất chính là con ngời. Trong thời đại ngày nay khoa học đã phát triển tới
3
mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất
và đời sống nó đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Nó vừa là ngành sản
xuất riêng vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lợng sản xuất đem lại
thay đổi về chất cho lực lợng sản xuất.
Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất
nó hoàn toàn có thể coi là đặc trng cho lực lợng sản xuất hiện đại.
2/ Khái niệm về quan hệ sản xuất:
Để tiến hành quá trình sản xuất nhất định con ngời phải có mối quan hệ
với nhau. Tổng thể những mối quan hệ này gọi là quan hệ sản xuất. Nói cách
khác quan hệ sản xuất là quan hệ giữa ngời với ngời trong sản xuất.
Trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình con ngời dù muốn hay
không cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi
hoạt động sản xuất cũng nh kết quả lao động những quan hệ sản xuất này
mang tính tất yếu. Nh vậy quan hệ sản xuất do con ngời tạo ra song nó đợc
hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai.
Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính
quy luật tất yếu, khách quan của sự vận động xã hội.
Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc vào
ý muốn của con ngời, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất
của đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lợng sản
xuất và là cơ sở của đời sống xã hội.
Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:
- Quan hệ sở hữu về t liêu sản xuất tức là quan hệ giữa ngời với t liệu
sản xuất. Tính chất của quan hệ sản xuất trớc hết đợc quy định bởi quan hệ sở
hữu đối với t liệu sản xuất Biểu hiện thành chế độ sở hữu. trong hệ thống
các quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất có vai trò quyết định
đối với các quan hệ xã hội khác.
Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài ngời đã từng trải qua, lịch sử
đã đợc chứng kiến sự tồn tại của 2 loại hình sở hữu cơ bản đối với t liệu sản
4
xuất: sở hữu t nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu công cộng là loại hình mà
trong đó t liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của cộng đồng. Do t liệu sản
xuất là tài sản chung của cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất
và trong đời sống xã hội nói chung trở thành quan hệ hợp tác giúp đỡ nhau.
Ngợc lại trong các chế độ t hữu do t liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số ng-
ời nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về một số ít ngời các
quan hệ xã hội do vậy bất bình đẳng.
- Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ giuã
ngời với ngời trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải. Trong hệ thống
các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là các quan
hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hớng mỗi
nền sản xuất cụ thể đi ngợc lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến
dạng quan hệ sở hữu ảnh hởng tiêu cực đến kinh tế xã hội.
Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm tức là quan hệ chặt trẽ với nhau
cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa t liệu sản xuất để làm
cho chúng không ngừng đợc tăng trởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng
cao phúc lợi cho ngời lao động. Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản
lý,trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm
lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động
của toàn bộ nền kinh tế. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp
điệu của sản xuất nhng ngợc lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự
phát triển của xã hội
Nêu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính
chất sở hữu quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác trong mỗi
hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ
vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng
những chung không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của
kinh tế xã hội mới.
5
B/ Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất:
1/ Tính chất và trình độ của lực l ợng sản xuất:
a/ Tính chất:
Tính chất của lực lợng sản xuất là tính chất của tu liệu sản xuất và lao
động. Khi nền sản xuất đợc thực hiện với những công cụ ở trình độ phổ thông,
lực lợng sản xuất chủ yếu mang tính chất cá nhân. Khi trình độ sản xuất đạt
tới trình độ cơ khí hoá, lực lợng sản xuất đòi hỏi phải đợc vận động cho sự hợp
tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá. Tính chất tự cấp tự túc cô lập
của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải đợc thay thế bởi tính chất xã hội hoá.
b/ Trình độ của lực l ợng sản xuất:
Lực lợng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự phát triển
của phơng thức sản xuất: Trình độ của lực lợng sản xuất trong từng giai đoạn
của lịch sử loài ngời thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài ngời trong
giai đoạn đó. Khái niệm trình độ của lực lợng sản xuất nói lên khả năng của
con ngời thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến
tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình. Trình độ lực l-
ợng sản xuất thể hiện ở: Trình độ công cụ lao động, trình độ quản lý xã hội
trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng
của con ngời và trình độ phân công lao động.
Trên thực tế tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất không tách biệt
nhau
B/ Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất:
Quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất là hai mặt của phơng thức sản
xuất, sự tác động lẫn nhau giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu
hiên mối quan hệ mang tính chất biện chứng. Chính sự thống nhất và tác động
giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất đã hình thành nên quy luật về sự
6
phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trìng độ phát triển của lực lợng
sản xuất.
Lực lợng sản xuất là nhân tố thờng xuyên biến đổi và phát triển. Ngợc
lại quan hệ sản xuất thờng có tính ổn định trong một thời gian dài.
Sự biến đội của lực lợng sản xuất có nhiều nguyên nhân:
- Bản thân ngời lao động thì những kỹ năng và kinh nghiệm không
ngừng tích luỹ và tăng lên.
- Bản thân tri thức khoa học trí thức công nghệ trở thành lực lợng sản
xuất trực tiếp.
- Sự ổn định của quan hệ sản xuất là nhu cầu khách quan để có thể sản
xuất đợc.
Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lợng sản xuất đến một giới hạn
nhất định sẽ đặt ra nhu cầu xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và hiện có. Việc xoá
bỏ quan hệ sản xuất cũ thay nó bằng một quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa
là diệt vong cả một phơng thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phơng
thức sản xuất mới. Sự xoá bỏ các hình thức quan hệ sản xuất hiện có không
phải là tự thân mà phải thông qua một phơng thức chính trị và pháp quyền mà
phơng thức pháp quyền là trực tiếp. Những quan hệ sản xuất cũ và hiện có từ
chỗ là hình thức kinh tế cần thiết để đảm bảo duy trì khai thác, phát triển của
lực lợng sản xuất giờ đây trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó
nh CácMác đã nhận định Từ một giai đoạn phát triển nào đó của chúng các
lực lợng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất
hiện có trong đó từ trớc đến nay các lực lợng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển.
Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lợng sản xuất những quan hệ ấy
trở thàng những xiềng xích của các lực lợng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại
một cuộc Cách mạng xã hộiĐó cũng chính là nội dung quy luật về sự phù
hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lợng sản
xuất.
7
Thực tiễn cho thấy rằng lực lợng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có
một quan hệ sản xuất hợp lý đồng bộ phù hợp với nó. quan hệ sản xuất lạc hậu
hơn hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của lực
lợng sản xuất. Khi mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất đã
bộc lộ gay gắt đòi hỏi phải giải quyết nhng còn lực lợng sản xuất ngời không
phát hiện đợc cũng nh mâu thuẫn đợc phát hiện mà không giải quyết đợc hoặc
giải quyết một cách sai lầm thì tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở
thành nhân tố phá hoại đối với lực lợng sản xuất.
Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta không nên tuyệt đối hoá vai trò của
lực lợng sản xuất mà bỏ qua sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với
nó khi giữa chúng có sự phù hợp. Đôi khi sự phát triển chệch hớng của quy
luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất là do yếu tố chủ quan, chứ không phải do tính chất đặc thù của quy
luật đó.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của lực l-
ợng sản xuất đối với quan hệ sản xuất song nó cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản
xuất bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tơng đối với lực lợng sản xuất. Quan
hệ sản xuất tác động trở lại lực lợng sản xuất , nó là yếu tố quyết định là tiền
đề cho lực lợng sản xuất phát triển khi nó phù hợp với trình độ phát triển của
lực lợng sản xuất. Nó làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu bớc đi và tạo quy mô thích
hợp cho lực lợng sản xuất hoạt động, cũng nh đảm bảo lợi ích chính đáng cho
ngời lao động phát huy tính tích cực sáng tạo cho con ngời là nhân tố quan
trọng và quyết định trong lực lợng sản xuất.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lợng
sản xuất vì nó quyết định mục đích sản xuất, quy định hệ thống quản lý sản
xuất và quản lý xã hội quy định phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà
ngời lao động đợc hởng. Do đó nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc
hạn chế sự phát triển của công cụ sản xuất áp dụng thành tựu khoa học và sản
xuất hợp tác phân công lao động.
8
C/ Sự vận dụng quy luật vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam:
Sự nghiệp đã đổi mới của Việt Nam đợc bắt đầu ngay từ giữa những
năm 80 và đợc triển khai mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực từ đó đến nay. Quá
trình đổi mới đã đa lại nhiều thành tựu to lớn, nhng đồng thời cũng đặt ra
nhiều lý luận quan trọng mà việc áp dụng quy luật quan hệ sản xuất phụ thuộc
vào tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất vào việc giải quyết
chúng một cách đúng đắn sẽ là cơ sở hết sức cần thiết cho việc tiếp tục hoạch
định và đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới, cũng nh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam.
Việt Nam đã xây dựng chủ nghĩa xã hội đợc hơn 30 năm ở miền Bắc và
hơn 10 năm trên phạm vi toàn quốc nếu tính đến thời điểm bắt đầu đổi mới.
Ngôi nhà xã hội chủ nghĩa mà chúng ta muốn xây dựng có thể có nhiều đặc tr-
ng, nhng có hai đặc trng chất lợng quan trọng nhất mà dứt khoát chúng ta phải
đặt đến, đó là vừa giàu có hơn, vừa công bằng hơn so với trong chủ nghĩa t
bản. Tuy nhiên trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội thì nền kinh tế sản xuất
của nớc ta lại chậm phát triển, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Sự
khó khăn này có thể có nhiều nguyên nhân, nhng có lẽ một trong những
nguyên nhân quan trọng nhất là: không nắm vững quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Nghị quyết Đại hội VIII đã chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm:
Nền kinh tế phát triển cha vững chắc, hiệu quả và sức mạnh tranh chấp.
Nhịp độ tăng trởng tổng sản phẩm trong nớc (GDP) nhịp độ tăng giá trị sản
xuất nông nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu không đạt chỉ
tiêu đề ra. Nhìn chung, năng xuất lao động thấp, chất lợng sản phẩm cha tốt,
giá thành cao. Nhiều sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp
thiếu thị trờng tiêu thụ trong cả nớc và nớc ngoài. Hệ thống tài chính-ngân
hàng còn yếi kém và thiếu lành mạnh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Cơ
cấu đầu t cha hợp lý, đầu t còn phân tán, lãng phí và thất thoát nhiều. Nhịp độ
9
thu hút đầu t trực tiếp của nớc ngoài giảm, công tác quản lý, điều hành công
tác này còn nhiều vớng mắc và thiếu sót. Quan hệ một số mặt cha phù hợp.
Kinh tế nhà nớc cha đợc củng cố tơng xứng với vai trò chỉ đạo, cha có chuyển
biến đáng kể trong việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nớc.
Một số vấn đề văn hoá-xã hội bức xúc và gay gắt chậm đợc giải quyết.
Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và nông thôn còn ở mức cao. Các hoạt động khoa
học và công nghệ cha đợc đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Cơ chế chính sách không đồng bộ và cha tạo động lực mạnh để phát
triển. Một số cơ chế, chính sách còn thiếu, cha nhất quán, cha sát với cuộc
sống, thiếu tính khả thi. Nhiều cấp, ngành cha thay thế, sửa đổi những quy
định về quản lý nhà nớc không còn phù hợp, cha bổ sung những cơ chế, chính
sách mới có tác dụng giải phóng mạnh mẽ lực lợng sản xuất. Trong thời kỳ
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền t bản chủ nghĩa, nhà nớc ta
đã không thấy rõ bớc đi có tính quy luật trên con đờng tiến lên chủ nghĩa xã
hội nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế
quốc dân và xét về thực chất là theo đờng lốiđẩy mạnh cải tạo xã hội chủ
nghĩa, đa quan hệ sản xuất đi trớc mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển.
điều đó có nghĩa là đa quan hệ sản xuất đi trớc để tạo địa bàn rộng rãi, thúc
đẩy lực lợng sản xuất phát triển. Điều đó là hoàn toàn mâu thuẫn với quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. để
khắc phục những mâu thuẫn có thể phát sinh đòi hỏi phải thiết lập quan hệ sản
xuất mới với những hình thức và bớc đi phù hợp và trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất.Những chính sách mới của đảng và nhà nớc đã thúc đẩy nền
kinh tế nớc ta phát triển một cách mạnh mẽ.Sự thúc đẩy nền kinh tế nhiều
thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa đã đa nền kinh tế nớc ta sang một
bớc đi mới. Mọi ngời đợc tự do kinh doanh buôn bán, các doanh nghiệp kinh
doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trớc pháp luật Tất
cả đều nhằm vào mục tiêu duy nhất là thúc đẩy nền kinh tế nớc nhà.
10
Để làm rõ hơn về nền kinh tế nớc ta trong thời kỳ quá độ, chúng ta sẽ đi
phân tích nền sản xuất nông nghiệp trong thời gian này. tại đại hội lần thứ VI,
Đảng ta đã nhận định:" Lực l ợng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trờng
hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không
đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ của lực lợng sản xuất
( Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI.
Nxb sự thật, HN, 1987, tr.57)Trong quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội phải kể
đến yếu tố chủ quan của việc đảng lãnh đạo, Nhà nớc phát động tính tích cực
xã hội của quần chúng bằng những lợi ích vật chất và tinh thần yêu nớc vốn có
của họ. Tuy nhiên, theo nhận định trên của đảng, ta thấy rằng, không thể cho
rằng những yếu tố tiên tiến của quan hệ sản xuất mãi là tiền đề sự thúc đẩy
phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất. Chúng chỉ tác động tích
cực trong một thời gian ngắn và cuối cùng, vẫn phải tuân thủ quy luật quan hệ
sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Thực trạng nền sản xuất nông nghiệp của nớc ta trong thời gian chuẩn
bị vào những năm đầu bớc vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn đã làm rõ nhận định trên của đảng. Tại thời điểm đó nền
sản xuất nông nghiệp không ổn định, nhiều nơi, nhiều vùng nông thôn bị đói
kém. Khi đó có ngời cho rằng, nguyên nhân sản xuất chậm phát triển là do
giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất có mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó thể
hiện giữa một bên là yêu cầu phát triển hơn nữa của lực lợng sản xuất theo h-
ớng tất yếu chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn với một bên là chế độ sở
hữu phân tán. Theo một số nhà nhận định, đây là mâu thuẫn vốn có và mâu
thuẫn là phổ biến trong các nền sản xuất. Khi nền sản xuất xã hội phát triển
đến trình độ cao thì tự bản thân chế độ t hữu nhỏ không thể nào tồn tại nh cũ,
nó buộc phải thay đổi. Nhìn lại quá trình chỉ đạo sản xuất nông nghiệp ở nớc
ta trớc đây Đảng ta đã rút ra đợc sự cần thiết của quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Tại Đại hội IX Đảng ta nhận định: "Cần phải nhân rộng mô hình hợp
tác, liên kết Công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nớc và kinh tế hộ
11
nông thôn, phát triển các loại hình trang trại quy mô phù hợp trên từng địa
bàn" (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr. 32). Trong sản xuất nông nghiệp,
sự đa dạng của các thành phần kinh tế đã tạo ra cơ chế quản lý với nhiều hình
thức sản xuất nông nghiệp mới phù hợp với những quan điểm đổi mới không
ngừng của Đảng và nhờ đó, tạo ra sự biến đổi mới trong các Hợp tác xã nông
nghiệp trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất. Điều đó càng khẳng định ý nghĩa
to lớn của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất.
Nhng dựa vào tiêu chuẩn nào để khẳng định rằng quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Trớc hết sự phù hợp đó thể
hiện ở chỗ, hiệu quả sản xuất ngày càng cao (năm sau cao hơn năm trớc), mặc
dù đất bị thiên tai nhiều bề và ít nhiều chịu ảnh hởng của tình trạng suy thoái
kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Điều quan trọng nữa, khi nói quan hệ
sản xuất phù hợp với lực lợng sản xuất không thể không nhìn vào đời sống của
nông dân, thực tế cho thế qua 15 năm thực hiện đờng lối đổi mới do Đảng đề
ra, đời sống của nông dân từng bớc đợc nâng cao, điều kiện nhà ở và học tập
của con em nông dân cũng khá hơn trớc.
Nh vậy thực trạng nền kinh tế có phát triển không? Lực lợng sản xuất
có phát triển không đó chính là tiêu thức để đánh giá sự phù hợp của quan hệ
sản xuất vào tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Một quy luật có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế của mỗi quốc gia.
III/ Kết luận và giải pháp
1/ Kết luận:
Quy luật của quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất là quy luật hết sức phổ biến. Tuy nhiên không phải
bất cứ lúc nào cũng có sự phù hợp đó. Do vậy, phải nắm bắt tốt quy chúng ta
có thể áp dụng vào từng trờng hợp cụ thể. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp
12
với trình độ lực lợng sản xuất còn là quy luật phổ biến trong toàn bộ tiến trình
lịch sử nhân loại. Sự thay thế phát triển đi lên của lịch sử loài ngời từ chế độ
công xã nguyên thuỷ qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ
t bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tơng lai là do sự tác động của hệ thống
các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất là quy luật cơ bản nhất. Lực lợng sản xuất là
nhân tố thờng xuyên biến đổi, ngợc lại quan hệ sản xuất lại thờng có tính ổn
định song sự ổn định đó chỉ là tạm thời và cũng cần có sự thay đổi cho phù
hợp. Nếu quan hệ sản xuất không có những sự thay đổi cho phù hợp thì nó sẽ
kìm hãm sự phát triển của sản xuất.
Nh vậy, trong việc xác lập hoàn thiện, thay đổi quan hệ sản xuất cần
phải căn cứ vào thực trạng của các lực lợng sản xuất hiện có về mặt tính chất
và trình độ của chúng (đây là cơ sở lý luận trực tiếp của việc xác định cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta hiện nay của quá trình cải cách của các
doanh nghiệp nhà nớc hiện nay).
2/ Giải pháp:
Cải tạo xã hội chủ nghĩa phải luôn luôn thấu suốt đặc điểm của quá
trình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa là quan hệ sản xuất
và lực lợng sản xuất luôn luôn gắn bó với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ
quy mô nhỏ lên quy mô lớn. Trên mỗi bớc đi phải đẩy mạnh xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật, tạo ra lực lợng sản xuất mới trên cơ sở đó tiếp tục đa quan hệ
sản xuất lên hình thức, quy mô thích hợp để cho lực lợng sản xuất phát triển.
Tại Đại hội IX Đảng ta khẳng định: " Cần phải" nhân rộng mô hình hợp
tác, liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nớc và kinh tế hộ
nông thôn, phát triển các loại hình trang trại với quy mô phù hợp trên từng địa
bàn những hình thức kinh tế hộ nông dân ngày càng đợc mở rộng, các hình
thái kinh tế hợp tác ở nông thôn, kinh tế trang trại, mở mang nhanh công
nghiệp chế biến nông sản theo nhiều trình độ quy mô công nghệ.
13
Với kiến thức của một sinh viên em chỉ phần nào đề cập đợc một số
khía cạnh của vấn đề. Em mong có sự góp ý của thầy cô nhằm giúp em hiểu rõ
hơn về vấn đề này. Cuối cùng em xin cam kết tất cả những gì em viết trên đây
là những hiểu biết của em. Những phần tham khảo đều đợc chú thích ở dới.
Em xin cảm ơn thầy Trần Ngọc Linh đã giúp em hoàn thành tiểu luận này.
14
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)