Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013

KỸ NĂNG làm VIỆC NHÓM

- Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực theo hớng kinh
tế tri thức của một số quốc gia và phân tích những hạn chế của nguồn nhân lực Việt
Nam, chỉ ra những giải pháp về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trớc yêu cầu của
kinh tế tri thức.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài nghiên cứu xu hớng phát triển của kinh tế tri thức cuối thế kỷ 20,
đầu thế kỷ 21.
- Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2003.
5. Phơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nội dung trên, Đề tài sử dụng phơng pháp nghiên cứu chung là
phơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra, Đề tài còn sử dụng các
phơng pháp khác nh: phơng pháp kết hợp lịch sử - lôgích, phơng pháp so sánh, tổng
hợp, phân tích, phơng pháp nghiên cứu hệ thống, phơng pháp thống kê kinh tế, phơng
pháp lợng hóa, phơng pháp điều tra khảo sát
6. Đóng góp của Đề tài:
- Làm rõ thêm nội dung có tính quy luật về phát triển nguồn nhân lực theo h-
ớng kinh tế tri thức ở nớc ta.
- Đa ra một số đánh giá khoa học về thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở
Việt Nam thời gian qua.
- Đa ra quan điểm và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn
nhân lực theo hớng tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam thời gian tới.
7. Kết cấu của Đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 ch-
ơng, 4 tiết.
Chơng 1: Kinh tế tri thức và yêu cầu của kinh tế tri thức đối với nguồn nhân
lực.
5
Chơng 2: Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trớc
yêu cầu của kinh tế tri thức.
6
Chơng 1: Kinh tế tri thức và yêu cầu của kinh tế tri
thức đối với nguồn nhân lực
1.1. Khái niệm kinh tế tri thức
1.1.1. Sự xuất hiện và xu hớng phát triển kinh tế tri thức
Mỗi giai đoạn cụ thể trong lịch sử tiến hoá của nhân loại tơng ứng với một trình
độ phát triển nhất định của lực lợng sản xuất xã hội và tất yếu hình thành một mô
hình kết cấu kinh tế đặc thù. Từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, dới tác động
của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, lực lợng sản xuất phát triển
mang tính bùng nổ, trong đó tri thức khoa học, công nghệ và thông tin ngày càng
đóng vai trò quyết định đối với nền sản xuất vật chất trên quy mô toàn cầu. Trớc
những động thái mới đó của nền kinh tế thế giới, các nhà chính trị, các học giả, các
nhà khoa học, lãnh đạo các quốc gia và các tổ chức quốc tế đã sử dụng thuật ngữ
Kinh tế tri thức (Knowledge Economy) để biểu đạt một giai đoạn phát triển cao
hơn trong trong tiến bộ kinh tế của con ngời.
Đặc biệt, từ năm 1990, khi tổ chức nghiên cứu của Liên hiệp quốc chính thức
đa ra khái niệm Kinh tế tri thức để xác định tính chất của loại hình kinh tế mới
này đã có rất nhiều công trình, bài viết, bài nói . đề cập tới kinh tế tri thức và phần
lớn đều cho rằng, kinh tế tri thức là một khái niệm nói về nền kinh tế đạt trình độ
phát triển nhất thế giới đơng đại, chứ không phải nằm trong hệ t duy logích của
cách tiếp cận hình thái kinh tế xã hội. Tức là, khi đề cập tới kinh tế tri thức là nói
tới một nấc thang phát triển của lực lợng sản xuất, tuyệt nhiên không phải nói tới
một hình thái kinh tế xã hội mới.
Từ cách tiếp cận trên về kinh tế tri thức, trớc hết, chúng ta xem xét lịch sử xuất
hiện nền kinh tế tri thức.
Quá trình phát triển lực lợng sản xuất của loài ngời có thể chia ra làm ba thời
kỳ gắn với ba nền kinh tế tơng ứng.
7
Thứ nhất là nền kinh tế nông nghiệp (hay còn gọi là kinh tế sức ngời)
Nền kinh tế nông nghiệp có đặc trng là sản xuất bằng công cụ thủ công, năng
suất thấp, đất đai là tài nguyên chủ yếu. Phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào ngành
nông nghiệp, chủ thể nền kinh tế là nông dân. Năng suất lao động phụ thuộc vào sức
lực của ngời lao động, phân phối cơ bản dựa vào sự chiếm hữu tài nguyên sức lao
động, sản phẩm có hàm lợng lao động cao. Trong giai đoạn này, giáo dục không đ-
ợc phổ cập, ngời mù chữ chiếm đại đa số. Tri thức là sự hởng thụ riêng biệt của tầng
lớp đặc quyền, nó trở thành nhu cầu tiêu dùng cao cấp của một số ít ngời. Thời kỳ
này kéo dài khoảng 6 7 nghìn năm (từ giai đoạn đầu của văn minh nhân loại đến
thế kỷ XIX).
Thứ hai là nền kinh tế công nghiệp (hay còn gọi là kinh tế tài nguyên)
Đặc trng của nền kinh tế công nghiệp là sản xuất bằng các công cụ máy móc và
tài nguyên thiên nhiên. Trong nền kinh tế công nghiệp, sự phân phối sản xuất phần
lớn dựa vào sự chiếm hữu tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào
các ngành công nghiệp, chủ thể của nền kinh tế là công nhân nhà máy. Hàm lợng về
năng lợng, nguyên liệu, thiết bị, vốn chiếm phần lớn trong một sản phẩm. Giai đoạn
này, về cơ bản đã phổ cập giáo dục bậc trung học.
Nền kinh tế công nghiệp gắn với hai cuộc cách mạng khoa học công nghệ.
Cách mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất diễn ra từ cuối thế kỷ XVIII đến
đầu thế kỷ XIX.
Cách mạng khoa học công nghệ lần thứ hai diễn ra từ đấu thế kỷ XIX đến cuối
những năm 70 của thế kỷ XX.
Nền kinh tế công nghiệp gắn với hai cuộc cách mạng khoa học công nghệ nói
trên làm cho việc sử dụng và khai thác tài nguyên trí lực ngày càng tăng, tiền đề cho
sự ra đời nền kinh tế tri thức.
Thứ ba là quá độ sang nền kinh tế tri thức.
8
Từ những năm 80 trở lại đây, nhiều tiến bộ có tính chất bùng nổ của lực lợng
sản xuất do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt ở các n-
ớc phát triển và các nớc công nghiệp mới (NICs), đang tạo nên sự biến đổi lịch sử:
nền kinh tế chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nền văn minh của
nhân loại chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ.
ở giai đoạn này, khoa học công nghệ trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp.
Khoa học tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm và có vị trí quan trọng hàng đầu.
Kết quả nghiên cứu của khoa học cũng nhanh chóng chuyển thành hàng hoá. Công
nghệ phát triển nh vũ bão. Nhờ có công nghệ mới mà nhiều ngành mới xuất hiện.
Phát triển mạnh nhất và chiếm đa số là những ngành sản xuất và dịch vụ dựa chủ
yếu vào tri thức và công nghệ cao nh: Ngành công nghệ thông tin, công nghệ năng
lợng vật liệu mới, công nghệ sinh học,
Nh vậy, kinh tế tri thức có chủ thể là ngời lao động tri thức, sản phẩm có hàm
lợng trí tuệ, hàm lợng chất xám cao. Trong kinh tế tri thức, vai trò của tài nguyên
thiên nhiên bị đẩy xuống hàng thứ yếu, lợi thế giàu tài nguyên và sức lao động
ngày càng giảm đi so với lợi thế giàu tri thức. Vì vậy nguồn nhân lực nhanh chóng
đợc tri thức hoá. Nơi làm việc cũng chính là nơi nâng cao nghề nghiệp, doanh
nghiệp có trờng đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu. Con ngời phải làm việc bằng
năng lực trí tuệ là chính. Cơ cấu lao động xã hội thay đổi cơ bản: nhân lực trong các
ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ xử lý thông tin và dịch vụ tri thức tăng nhanh.
Năng lực kinh doanh và phát hiện, chiếm lĩnh thị trờng trong nhiều trờng hợp còn
quan trọng hơn năng lực sản xuất (vai trò của doanh nhân).
Có thể thấy, chính sự phát triển cao độ của kinh tế công nghiệp là điều kiện tiên
quyết để kinh tế công nghiệp chuyển sang kinh tế tri thức; đó cũng chính là sự phát
triển cao độ của nông nghiệp, công nghiệp và ngành dịch vụ, sự thành thục của kinh
tế thị trờng và sự phát triển cao độ của kỹ thuật mới. Nếu không nâng cao mức sống
của nhân dân, không phổ cập và nâng cao giáo dục toàn dân, không c bồi dỡng nhân
9
tài chuyên môn, không bố trí hợp lý nhân tài cao cấp thì sẽ không thể có kinh tế tri
thức.
Sự xuất hiện kinh tế tri thức đã đợc nhiều nhà chính trị, nhà khoa học, lãnh đạo
các quốc gia và các tổ chức quốc tế thừa nhận. Tuy nhiên, còn có nhiều tên gọi khác
nhau đợc sử dụng để nói về giai đoạn phát triển mới này của nền kinh tế:
- Kinh tế hậu công nghiệp: dùng để chỉ nền kinh tế tiếp theo của nền kinh
tế công nghiệp.
- Kinh tế số hoá (digital economy) dùng để chỉ sản phẩm của nền kinh tế
này đợc mã hoá thành các chữ số.
- Kinh tế mạng (network economy): dùng để chỉ sự tơng tác, kết nối các
thành phần của nền kinh tế gồm mạng nội bộ, mạng diện rộng, mạng
toàn cầu .
- Kinh tế thông tin (information economy): dùng để chỉ đặc trng chủ yếu
của nền kinh tế này là công nghệ thông tin: sự trao đổi, truy cập thông tin
sẽ tạo ra vốn chủ đạo của nền kinh tế.
- Kinh tế học hỏi (Learning economy): dùng để chỉ việc học tập suốt đời
của con ngời là động lực chủ yếu của nền kinh tế.
- Kinh tế dựa trên tri thức (Knowledge based economy): dùng để chỉ tính
chất của nền kinh tế là dựa vào việc tạo lập, trao đổi các sản phẩm tri
thức.
- Kinh tế máy tính (Computer economy): dùng để chỉ sự điều hành và hoạt
động của nền kinh tế là phải thông qua máy tính. Những ngời dùng tên
gọi này cho rằng máy tính là bộ phận trung tâm của nền kinh tế. Vì vậy
lấy tên máy tính đặt tên cho nền kinh tế. Tuy nhiên, rất ít ngời sử dụng
khái niệm này.
10
- Kinh tế mới (new economy): dùng để chỉ nền kinh tế mới xuất hiện khác
với hai nền kinh tế trớc đó (kinh tế nông nghiệp và kinh tế công nghiệp).
Những ngời sử dụng tên gọi này cho rằng: cha nên đặt tên cụ thể vì phải
qua một thời gian phát triển, những đặc trng sẽ xuất hiện, thể vì phải qua
một thời gian dài phát triển (có thể kéo dài 1 - 2 thế kỷ), những đặc trng
của nền kinh tế này mới xuất hiện đầy đủ. Lúc đó mới có cơ sở để đặt tên
1 cách chính xác
- Kinh tế tri thức (knowledge economy): dùng để chỉ nền kinh tế trong đó
sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối
với phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lợng cuộc sống. Tên
gọi này đợc nhiều ngời sử dụng hơn cả. Các nớc thuộc tổ chức hợp tác
kinh tế và phát triển (OECD) và Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái
Bình Dơng (APEC) đều dùng tên gọi này từ những năm 1995 - 1996.
Đây là tên gọi nói lên đợc nội dung cốt lõi nhất của nền kinh tế mới.
Qua những cách gọi khác nhau kể trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy: trong nền
kinh tế tri thức, tri thức, thông tin, công nghệ cao luôn luôn có vị trí thúc đẩy sản
xuất và nền kinh tế phát triển; chúng trở thành những yếu tố hàng đầu của sản xuất
và khoa học trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Đặc biệt, công nghệ cao nh: công
nghệ thông tin, nhất là siêu xa lộ thông tin, internet, thực tế ảo ..; công nghệ sinh
học đặc biệt là công nghệ gen, công nghệ tế bào; vật liệu mới; năng lợng mới làm
tăng nhanh nhịp độ tăng trởng kinh tế, dịch chuyển mạnh cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
lực lợng sản xuất phát triển. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhận thức rõ: những
thay đổi, phát triển trên không chỉ là cuộc cách mạng trong khoa học công nghệ,
trong phát triển lực lợng sản xuất, mà còn là cuộc cách mạng trong quan niệm,
trong cách tiếp cận. Nó đòi hỏi con ngời phải đổi mới cách nghĩ, cách làm để thích
nghi và làm chủ sự phát triển.
Hiện nay, kinh tế tri thức đang hình thành ở nhiều nớc, kinh tế tri thức đang trở
thành xu hớng của thế giới, trớc hết là trong các nớc phát triển và các nớc công
11
nghiệp mới. Không ít các nhà kinh tế học trên thế giới có nhận định vào năm 2010,
giá trị sản lợng của công nghệ phần mềm trong công nghệ thông tin, công nghệ sinh
học, công nghệ khoa học kỹ thuật năng lợng tái sinh và năng lợng mới, công nghệ
vật liệu mới, công nghệ kỹ thuật mới cao có lợi cho môi trờng và khoa học kỹ thuật
hải dơng sẽ vợt qua một cách toàn diện giá trị công nghệ thờng thấy nh công nghệ ô
tô, xây dựng, dầu mỏ, gang thép, vận tải, dệt Các chuyên gia Liên hợp quốc, cho
rằng khoảng thập kỷ thứ 3 của thế kỷ XXI, công nghệ cao sẽ tác động mạnh mẽ, sâu
rộng đến toàn bộ nền kinh tế của các nớc phát triển và lúc bấy giờ các nớc phát triển
thực sự đã chuyển sang kinh tế tri thức. Còn khoảng cách của các nớc đang phát
triển đến nền kinh tế tri thức là rất xa, vì các nớc này khó mà khắc phục đợc khoảng
cách về tri thức đang rất lớn và ngày càng dãn ra so với các nớc phát triển.
Vì vậy, một số ý kiến khác cho rằng: giai đoạn quá độ sang kinh tế tri thức sẽ
kéo dài suốt thế kỷ XXI. Nếu không thực hiện một chiến lợc phát triển nguồn nhân
lực có thể làm chủ đợc tri thức mới của thời đại, thì đến nửa sau thế kỷ XXI cũng
khó xây dựng đợc nền kinh tế tri thức. Việc xác định chính xác giai đoạn phát triển
hoàn chỉnh của kinh tế tri thức là rất khó khăn, vì vậy, còn tồn tại rất nhiều quan
điểm khác nhau. Bất luận là quan điểm nh thế nào thì cũng đang diễn ra trên thực tế
sự quá độ sang một nền kinh tế khác so với nền kinh tế tồn tại từ trớc cho tới nay.
1.1.2. Bản chất và đặc điểm của Kinh tế tri thức
Bản chất của kinh tế tri thức
Việc xác định bản chất của một sự vật, hiện tợng ngay khi nó mới xuất hiện là
công việc hết sức khó khăn. Xác định bản chất của kinh tế tri thức khi nền kinh tế
này cha phát triển hoàn chỉnh, thậm chí tên gọi của nó cha đợc thống nhất là một
vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu và thảo luận. Bản thân khái niệm kinh tế tri thức
hiện nay trên thế giới vẫn cha có sự nhận thức và lý giải thống nhất. Một số nhà
nghiên cứu đã tiếp cận kinh tế tri thức từ góc độ vai trò của tri thức đối với sự tăng
trởng kinh tế. Họ cho rằng Kinh tế tri thức là nền kinh tế xây dựng trên cơ sở sản
12
xuất, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin. Quan điểm này nhấn mạnh vai trò
của tri thức, nhng bỏ qua cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế tri thức.
Một số ngời nghiên cứu khác lại tiếp cận kinh tế tri thức từ vai trò, tác dụng
của công nghệ thông tin. Họ đánh giá cao vai trò của công nghệ thông tin đối với sự
tăng trởng kinh tế, cho rằng sự xuất hiện của lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn
thông sẽ làm chuyển biến sâu rộng các nền kinh tế công nghiệp. Ví dụ: ở Mỹ, việc
sử dụng công nghệ tin học đã góp tới 0,9 điểm tăng trởng. Với cách nhìn nhận nh
vậy họ đã đặt tên cho nền kinh tế mới là kinh tế thông tin. Cách hiểu này về nền
kinh tế tri thức đã tuyệt đối hoá vai trò của công nghệ thông tin trong nền kinh tế t-
ơng lai.
Một cách tiếp cận khác đối với bản chất của kinh tế tri thức là cách tiếp cận
kinh tế tri thức từ trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Quan điểm này cho rằng,
mọi nền kinh tế đều có các lĩnh vực: sản xuất, lu thông và tiêu dùng, hợp thành một
hệ thống nhất, có tác động qua lại mật thiết, trong đó lĩnh vực sản xuất có vai trò cơ
bản. Do đó, đánh giá trình độ phát triển của một nền kinh tế phải căn cứ vào trình
độ phát triển của lĩnh vực sản xuất, trong đó yếu tố có tính cách mạng nhất là công
cụ sản xuất. Đặc trng cơ bản của nền kinh tế nông nghiệp là công cụ sản xuất thủ
công; đặc trng cơ bản của kinh tế công nghiệp là công cụ sản xuất cơ khí (hay thờng
gọi là máy móc).
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ của thế kỷ XX đã đa đến những thành
tựu vừa có tính chất cơ bản, vừa có tính chất tổng hợp là máy điều khiển tự động.
Các máy điều khiển tự động đã mở ra hai công nghệ mới, có liên quan mật thiết với
nhau, đợc ứng dụng rộng rãi không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà hầu hết các lĩnh
vực của đời sống xã hội, đó là công nghệ tự động hoá và công nghệ thông tin. Hai
công nghệ này đã tạo ra một bớc phát triển nhảy vọt về năng suất lao động trong cả
lĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất.
Từ những lập luận trên, những quan điểm tiếp cận kinh tế tri thức từ trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất đã cho rằng: Kinh tế tri thức là nói về trình độ phát
13
triển cao của nền kinh tế mà cơ sở kỹ thuật của nó là máy điều khiển tự động, với
hai công nghệ cơ bản là công nghệ tự động hoá và công nghệ thông tin cho phép tự
động hoá cả quá trình sản xuất vật chất và phi vật chất [23;35].
Từ sự phân tích những quan điểm khác nhau kể trên về bản chất của kinh tế tri
thức, có thể hiểu: Kinh tế tri thức là một trình độ phát triển cao của nền kinh tế mà
trong đó nền tảng lực lợng sản xuất chủ yếu của nó là các ngành kỹ thuật công nghệ
cao; khoa học đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp và có vai trò quyết định đối
với sự phát triển kinh tế.
Kinh tế tri thức về bản chất là một cách gọi nền kinh tế ở trình độ phát triển cao
nhất của thế giới đơng đại. Đó là khái niệm nằm trong khuôn khổ của kinh tế thị tr-
ờng với hàm ý chính là khẳng định vai trò to lớn của tri thức (khoa học công
nghệ) trong phát triển. Nhng không chỉ có vậy, cách tiếp cận của kinh tế tri thức
hiện nay còn hàm ý sâu xa rằng, có một sự phát triển nhảy vọt, đứt đoạn trong vai
trò của tri thức trong phát triển so với bất cứ giai đoạn lịch sử nào trớc đó (vì nhìn
lại lịch sử phát triển kinh tế lâu dài của nhân loại thì không ai có thế phủ nhận rằng,
thời nào cũng vậy, tri thức vẫn nằm ở trung tâm của sự tăng trởng kinh tế và nâng
cao từng bớc phúc lợi xã hội). Một xu hớng rõ rệt ngày càng đợc nhiều ngời thừa
nhận là sự xuất hiện của kinh tế tri thức không phải là sự tiến bộ bình thờng, mà là
sự phát triển mang tính cách mạng, đánh dấu sự sang trang của một giai đoạn phát
triển mới của nhân loại.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự bộc lộ rõ ràng bản chất trên của kinh tế tri thức
khi nền kinh tế đạt tới sự phát triển:
- 70% GDP là từ các ngành sản xuất và dịch vụ ứng dụng công nghệ cao.
- 70% trong cơ cấu giá trị gia tăng là do kết quả của lao động trí óc.
- 70% lực lợng lao động là công nhân trí tuệ.
- 70% giá trị t bản là con ngời.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét